Giáo trình Tác động cột sống Việt Nam-Phần II-ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG

PHẦN II

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA

PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG

 

Cơ thể con người là một cấu trúc hoàn chỉnh, chặt chẽ và được quản lý, điều khiển, chi phối với nhau bởi hệ thần kinh, hệ nội tiết. Theo đó, khi trên cột sống xuất hiện biến đổi tương ứng với bệnh thì tại nơi này lớp cơ, nhiệt độ, cảm giác cũng biến đổi theo. Chính vì vậy, phương pháp đề ra 4 đặc trưng cơ bản: 

I. CỘT SỐNG

I.1. Cấu tạo

CỘT SỐNG CẤU TẠO GỒM 33 ĐẾN 34 ĐỐT HỢP THÀNH CỤ THỂ NHƯ SAU:

Tên đốt sống

Ký hiệu

Tên đầy đủ

7 đốt sống cổ C1 ÷ C7 C: Cervicalis
12 đốt sống lưng (T1 ÷ T12) T: Thoracalis
5 đốt sống thắt lưng (L1 ÷ L5) L: Lumbar
5 đốt sống cùng (S1 ÷ S5) S: Sacral
4 đến 5 đốt sống cụt (Cx)

Coccyx

CẤU TẠO CHUNG CỦA ĐỐT SỐNG

ĐỐT SỐNG NGỰC NHÌN SAU

ĐỐT SỐNG NGỰC VÀ DÂY CHẰNG

I.2. Đặc điểm riêng và cách nhận biết

Năm loại đốt sống trên có cấu tạo và đặc điểm riêng. Để tìm và xác định đúng chúng, người ta dựa vào mốc giải phẫu là các xương bả vai, xương sườn cụt và bờ trên xương chậu. Dùng các góc, các cạnh của xương đó làm mốc để tìm.

I.2.1. Các đốt sống cổ

Vùng cổ gồm 7 đốt nếu lấy C1 và C7 làm mốc thì đều cong lướt về phía trước và đốt sống C4 là đốt cong sâu nhất.

Đốt C1: Là đốt đội (còn có tên gọi là Atlat – tên một đại lực sĩ trong thần thoại Hy Lạp) sờ khó thấy. C1 nâng đỡ hộp sọ, có hình vòng tròn dẹt, thân đốt không rõ và lỗ đốt rất rộng, đảm bảo cho hộp sọ được xoay chuyển được dễ dàng.

Đốt C2: Còn gọi là đốt trục (Axis). Gai đốt tròn khi sờ thấy đầu tiên kể từ xương chẩm xuống. Cấu tạo hình khuyên tròn và bắt đầu xuất hiện thân đốt. Giữa C1 và C2 không có đĩa đệm. Phía trên và trước khuyên này lồi lên một mỏm gọi là mấu răng khế lấn sâu vào lỗ sống đốt C1. Giải phẫu học hiện đại gọi là mỏm răng (apophyse odontoide).

Đốt trục khớp với đốt đội giúp cho hộp sọ chuyển động, quay phải, quay trái được dễ dàng. Ngay cả khi ta gật đầu ra phía trước cũng nhờ trục của đốt C2 nghiêng về phía trước.

C3 ÷ C6: Thân đốt nhỉnh hơn, lỗ đốt Thu dần lại. Gai đốt chẻ đôi như lưỡi rắn. Giữa các thân đốt có đĩa đệm.

Đốt C7: Là đốt sống cổ lồi cao nhất khi cúi, mỏm gai không chẻ đôi. Để nhận biết ta đặt nhẹ Tay lên gáy trên đường ngang hai bờ vai. Cho người bệnh cúi, ngửa nhẹ nhàng. Đốt sống dịch động là C7, đốt sống không dịch động là T1.

Khi thăm khám trên cột sống, người Thầy thuốc cần chú ý đến đốt sống cổ C6 và C7: Ở mỏm ngang đốt C6 có một chỗ lồi cao, ta gọi là lồi trên, còn có tên gọi là Tubercule de Chassaignac (củ Chassaignac). Ở mỏm gai đốt C7 cũng có một lồi cao rất rõ trội hơn củ Chassaignac được gọi là lồi dưới.

Tất cả các mỏm ngang của đốt sống cổ từ C1 đến C7 đều có lỗ ngang để động mạch và tĩnh mạch sống đi qua.

I.2.2. Các đốt sống lưng

Vùng sống lưng có 12 đốt, ký hiệu là T, từ T1 ÷ T12. Các lỗ đốt tròn, nhỏ, thân đốt khá dày, giữa các đốt có đĩa đệm. Do cần tiếp xúc với đầu xương sườn sau, nên mỗi đốt có tới 4 diện khớp để khớp nối với xương sườn. Mỏm gai rất dài và thõng sâu do đó khi Tay ta sờ thấy đuôi gai của một đốt nào đó thì ngón Tay ta đã đặt ngang tầm thân đốt dưới.

Đốt T1: Nằm dưới lồi dưới của C7. Do có liên kết của xương sườn số 1 nên khi cúi cổ và quay đầu đốt này không chuyển động.

Đốt T3: Nằm trên đường thẳng nối bờ trong trên của hai xương bả vai.

Đốt T7: Nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả vai.

Từ đốt T1 trở xuống, cột sống lưng có xu thế cong về phía sau và đốt T4 là điểm thứ nhất nhô cao lên. Từ T8 trở đi, cột sống có hình cong lướt và T10 là đốt thứ hai nhô cao ra sau khi đứng cúi gập và đưa sâu ra phía trước nhiều nhất khi ưỡn ngửa lưng.

I.2.3. Các đốt sống thắt lưng

Vùng thắt lưng gồm 5 đốt, ký hiệu là L, từ L1 ÷ L5. So với các đốt sống lưng, các đốt sống thắt lưng khỏe hơn rất nhiều; chúng phải gánh chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể gia trọng lên nó. Các mỏm gai ngắn, rộng, mũi tròn nằm ngang. Thân đốt sống to chắc, lỗ đốt nhỏ hình tam giác, không tiếp khớp với xương sườn nên các mỏm ngang dài và nhọn.

Đốt sống thắt lưng L2 nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (nhìn phía ngoài mặt da, đó là nơi Eo lưng bắt đầu thắt lại).

Đốt sống lưng L4 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương chậu.

Về mặt hình thái, từ L1 đến L5, cột sống có xu thế thẳng đều.

Giữa các đốt có đĩa đệm.

Chú ý:

– Ở nam giới: L4 và L5 cong về phía trước.

– Ở nữ giới: L4 và L5 vẫn thẳng đều (người phụ nữ có chức năng mang Thai). Nếu không như vậy là hiện tượng bệnh lý.

Các đốt sống này là một trong những đốt sống bản lề giúp cơ thể chuyển động được nhiều tư thế khác nhau.

I.2.4. Các đốt sống cùng

Xương cùng bao gồm 5 đốt, ký hiệu là S, từ S1 ÷ S5. Các đốt sống này dung hợp thành một liên tảng lớn, có xu hướng cong về phía sau. Điểm cao nhất là S5. Bản liên tảng mỗi bên có 4 lỗ bát liêu đối xứng nhau. Lỗ bát liêu xuyên thủng mặt trước và sau.

Lỗ bản nhỏ, bên trong có lỗ xuyên ngang sang lỗ bát liêu cho rễ thần kinh đi qua.     

I.2.5. Đốt sống cụt

Các đốt sống cụt gồm 4 ÷ 5 đốt. Dung hợp thành một liên tảng và cong về phía trước, mà đầu xương cụt đưa ra phía trước sâu nhất. Ký hiệu là Cx, không có lỗ và thân đốt.

I.3. Thần kinh trung ương

Hệ thần kinh trung ương bao gồm não bộ và tủy sống. Não bộ nằm trong hộp sọ, tiếp liền với tủy sống từ dưới lên, phần phình to; tủy sống nằm trong ống sống.

Hệ thần kinh trung ương gồm hai phần:

– Phần thần kinh trung ương não bộ.

– Phần ngoại biên với 12 đôi dây thần kinh sọ não và 31 đôi tủy sống.

Thần kinh trung ương có 3 chức năng chính:

– Tiếp nhận thông tin từ ngoài vào và từ trong cơ thể đi ra.

– Tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin ở vỏ não.

– Vỏ não ra quyết định hành động.

I.3.1. Não bộ

Não bộ gồm có: Trụ não, tiểu não, não trung gian và đại não.

– Trụ não:

+ Cấu tạo:

* Chất xám ở trong là trung ương thần kinh, bao gồm các nhân xám.

* Chất trắng bao bọc bên ngoài, là nơi xuất phát của 12 đôi dây thần kinh gồm: Dây cảm giác, dây vận động và dây hỗn hợp.

+ Chức năng:

* Chất xám là trung ương điều khiển, điều hòa hoạt động nội quan đặc biệt là: Tim, Gan, Phổi, Thận…

* Chất trắng dẫn truyền xung thần kinh.

– Tiểu não:

+ Cấu tạo:

* Chất xám bao bọc bên ngoài bao gồm cả vỏ ngoài và nhân xám bên trong.

* Chất trắng ở bên trong là đường dẫn truyền xung thần kinh, nối các trung khu của não bộ.

+ Chức năng: Chất xám có nhiệm vụ phối hợp các cử động phức tạp và giữ thăng bằng cho cơ thể.

– Não trung gian:

+ Cấu tạo:

* Chất xám (vùng dưới đồi thị) là trung ương thần kinh có vai trò trong trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng, thân nhiệt.

* Chất trắng (vùng đồi thị) là trạm trung chuyển cuối cùng từ dưới lên (dây cảm giác).

– Đại não:

+ Cấu Tạo: Là phần phình to bao trùm các phần khác của não bộ. Nhìn bên ngoài, rãnh liên bán cầu chia đại não thành 2 nửa. Mỗi bán cầu não có nhiều khe, rãnh, có 4 rãnh sâu (Rãnh đỉnh, rãnh thái dương, rãnh thẳng góc ngoài), chia làm 4 thùy (Thùy trán, đỉnh, thái dương, chẩm). Đi sâu vào bên trong, chất xám bao bọc bên ngoài là vỏ não và các nhân xám bên trong. Vỏ xám dày từ 2 đến 3mm. Diện tích bề mặt của não bộ khoảng 2300 đến 2500 cm2 (2/3 nằm trong khe, rãnh).

+ Chức năng:

– Chất xám: Là trung ương thần kinh của phản xạ có điều kiện (có ý thức). Có sự phân chia thành nhiều vùng chức năng bao gồm:

* Vùng cảm giác (Thùy Trán).

* Vùng vận động (Thùy Đỉnh).

* Vùng thính giác (Thùy Thái dương).

* Vùng thị giác (Thùy Chẩm).

* Vùng vị giác.

* Vùng vận động ngôn ngữ, nói và viết.

* Vùng hiểu ngôn ngữ, nói và viết.

– Chất trắng: Làm nhiệm vụ dẫn truyền, kết nối các trung khu trong não. Có các bó nối hai bán cầu não và bó sợi nối với tủy sống, hầu hết bắt chéo ở hành não và tủy sống.

I.3.2. Dây thần kinh sọ não

Dây thần kinh sọ não gồm 12 đôi phân ra làm 3 loại theo chức năng hoạt động.

I.3.2.1. Dây thần kinh cảm giác

Dây thần kinh cảm giác gồm có 3 đôi: Dây thần kinh khứu giác (dây số I), dây thần kinh thị giác (dây số II) và dây thần kinh thính giác (dây số VIII).

– Dây thần kinh khứu giác (dây I): Chức năng cảm nhận mùi vị và nhận kích thích từ mũi chuyền về não; nếu bị tổn thương sẽ bị rối loạn mùi.

– Dây thần kinh thị giác (Dây số II): Chức năng nhận hình ảnh từ mắt truyền về não bộ. Nếu bị tổn thương thì dẫn đến mù lòa, tổn thương bên nào thì mù bên đó; nghẽn hoặc tắc động mạch trung tâm võng mạc cũng gây mù; nếu bị bệnh ở dây II thì mắt ngứa và khó chịu.

– Dây thần kinh thính giác (Dây số VIII) gồm có 2 dây:

+ Dây ốc Tai: Chức năng nghe, nếu tổn thương có thể gây điếc.

+ Dây tiền đình: Điều hòa thăng bằng, tư thế và cảm nhận vị trí cơ thể trong không gian. Nếu tổn thương thì nhìn các vật như quay cuồng, hoa mắt chóng mặt, người đi lảo đảo không vững.

I.3.2.2. Dây thần kinh vận động

Dây thần kinh vận động có 5 đôi gồm có: Dây thần kinh số III, IV, VI, XI, XII.

 12 ĐÔI THẦN KINH SỌ NÃO

– Dây thần kinh số III (vận nhãn trong): Chức năng đưa mắt vào trong, điều khiển các cơ mống mắt giúp điều tiết ánh sáng vào mắt, làm thay đổi mặt cong của thấu kính thông qua các dây chằng nối với cơ mống mắt. Thay đổi tiêu cự của thấu kính, giúp nhìn xa và gần.

– Dây thần kinh số IV (dây thần kinh dòng dọc): Chức năng đưa mắt lên trên và vào trong.

– Dây thần kinh số VI (dây vận nhãn ngoài): Chức năng đưa mắt liếc ra ngoài, nếu tổn thương thì không làm được.

– Dây thần kinh số XI (thần kinh gai sống): Chịu trách nhiệm điều khiển sự vận động cơ thang, cơ ức đòn chũm.

– Dây thần kinh số XII (dây hạ thiệt): Điều khiển sự vận động cơ lưỡi và một số cơ cổ, cơ ở cằm. Nếu tổn thương thì sẽ gây liệt một nửa lưỡi theo chiều dọc, tổn thương ngoại vi làm teo lưỡi bên tổn thương.

I.3.2.3. Dây thần kinh hỗn hợp

Các đôi dây thần kinh hỗn hợp gồm có: Dây số V, VII, IX, X.

– Dây TK số V (dây sinh ba): Dây số V có chức năng cảm giác mặt, phân ra 3 nhánh: nhánh mắt, hàm trên, hàm dưới. Nếu tổn thương thì làm méo lệch về bên đối diện. Đau dây V thì đau dữ dội nửa mặt.

– Dây thần kinh số VII (dây mặt): Có 2 dây, dây VII vận động các cơ bám da ở mặt, cổ; dây VII còn lại làm nhiệm vụ tiết dịch tuyến lưỡi, dưới hàm, nhận cảm giác ở 2/3 trước lưỡi. Tổn thương dây VII trung ương mắt nhắm khít, liệt dây VII mắt không nhắm được.

– Dây thần kinh số IX (dây hầu thiệt): Chức năng của dây là điều khiển hầu và cảm giác ở 1/3 sau lưỡi. Nếu tổn thương sẽ bị mất cảm giác ở 1/3 sau lưỡi và khi ăn uống hay bị sặc, tuyến Tai không bài tiết.

– Dây thần kinh số X (dây Lang thang): Dây Lang thang hay còn gọi là dây phế vị, chạy dọc theo động mạch cảnh vào trong ngực, dọc hai bên thực quản, cơ hoành xuống bụng. Dây này chi phối hoạt động ở cổ, bụng, ngực. Đây là dây thần kinh thực vật (Giao cảm và Phó Giao cảm) rất quan trọng. Khi cả hai dây bị tổn thương thì Tim đập không đều và nhanh, nhịp thở chậm, mất cảm giác dưới hàm không nuốt được.

I.3.3. Tủy sống và 31 đôi dây thần kinh tủy sống

Tủy sống nằm dọc trong ống sống, phía trên tiếp xúc với hành não (C1), kéo dài theo ống sống xuống dưới ngang mức L2. Tủy sống là một cột thần kinh dài 45 đến 50 cm, bên ngoài có màng bao bọc. Tủy sống có 2 phình (phình cổ và phình thắt lưng), 2 mặt, 6 rãnh, 6 cột, 4 rễ: Phình cổ tương ứng với đám rối cánh Tay, chi phối chi trên; phình thắt lưng tương ứng với đám rối thắt lưng, chi phối chi dưới. Dây thần kinh bắt đầu từ tủy sống thông qua các rễ thần kinh và chui qua lỗ gian đốt cột sống (khe tiếp hợp giữa hai đốt), có 2 rễ thần kinh. Rễ trước (rễ vận động), rễ sau (rễ cảm giác), rễ cảm giác có hạch gai. Rễ sau gồm nhiều bó sợi thần kinh cảm giác, dẫn truyền xung thần kinh đi vào. Rễ trước gồm nhiều bó sợi thần kinh vận động, dẫn truyền xung thần kinh đi ra.

Tủy sống có 31 đôi dây thần kinh bao gồm 8 cổ (C1 ÷ C8), 12 ngực (T1 ÷ T12), 5 thắt lưng (L1 ÷ L5), 5 cùng (S1 ÷ S5), 1 cụt.

CẤU TẠO CỦA TỦY SỐNG

CẤU TẠO NƠ RON THẦN KINH

Chức năng của tủy sống: Chức năng chính của tủy sống là dẫn truyền và là trung tâm của phản xạ không điều kiện.

– Chức năng dẫn truyền:

+ Dẫn truyền vận động đi xuống: Tín hiệu thần kinh được dẫn truyền từ vỏ não đi xuống, trên đường dẫn truyền có 9/10 bó tháp bắt chéo sang bên đối diện ở hành não đó là bó tháp chéo, còn 1/10 bó tháp đi thẳng xuống tủy sống rồi cũng bắt chéo ở tủy sống. Khi bị tổn thương bên nào thì bên đối diện bị bệnh.

+ Dẫn truyền cảm giác đi lên: Ở tủy sống có các đường dẫn truyền cảm giác như nóng, lạnh, đau, cảm giác sâu, có ý thức và không có ý thức.

* Cảm giác sâu: Có ý thức từ gân, cơ, xương khớp, có các sợi dẫn truyền bắt chéo qua đường giữa lên vỏ não bên đối diện; không có ý thức về trương lực cơ, giữ thăng bằng và phối hợp các động tác của cơ thể.

* Cảm giác nông: Cung trước dẫn truyền xúc giác, dẫn truyền các cảm giác đau, nóng, lạnh. Các sợi của bó cơ này đều đi đến đối thị rồi sang vỏ não bên kia.

Chú ý: Các đường dẫn truyền cảm giác (nông và sâu) đều bắt chéo sang bên đối diện, cho nên cảm giác đau của nửa cơ thể bên này được dẫn truyền sang vỏ não của bán cầu não bên kia và ngược lại.

– Trung tâm của phản xạ không điều kiện.

+ Phản xạ gân cơ: Mỗi tiết đoạn tủy sống có quan hệ với một nhóm cơ trên cơ thể.

+ Phản xạ trương lực cơ: Là mức căng cơ bình thường gọi là trương lực cơ. Bản chất của trương lực cơ là phản xạ có ở trung tâm của tủy sống. Khi bị tổn thương thì sẽ co cứng hoặc mềm nhẽo.

+ Phản xạ da: Xuất hiện khi ta gãi lên da như: Phản xạ da bụng khi ta gãi bụng, phản xạ gan bàn chân khi ta gãi dọc từ gót theo bờ ngoài đến ngón chân cái. Khi gãi các ngón chân sẽ gấp lại hoặc xòe ra như Nan quạt (DH Babinski) là phản xạ bình thường, nếu gãi bàn chân nào mà ngón cái ngửa ra là tổn thương bó tháp.

+ Phản xạ thực vật (PXTV):

* Phản xạ thực vật không định khu như tiết mồ hôi, phản xạ nổi da gà, phản xạ vận mạch.

* Phản xạ thực vật có trọng khu như đại tiện (tiết đoạn thắt lưng và cùng); phản xạ tiểu tiện (tiết đoạn S2 đến S4); phản xạ cương sinh dục (L và S); trung tâm tăng nhịp Tim (tiết đoạn C và T).

+ Sự thay đổi của phản xạ tủy:

 * Ảnh hưởng của vỏ đại não: Nói Chung vỏ đại não có tác dụng kiềm chế tủy, nhất là phản xạ da và gân.

* Ảnh hưởng của thể tích khi bị nhiễm độc (Strichnin, rượu, …) hoặc bị bệnh Tetani (Canxi huyết giảm, canxi huyết là 1% và là hằng số) thì các phản xạ đều tăng.

I.3.4. Hệ thần kinh thực vật (TKTV)

Hệ thần kinh thực vật còn gọi là hệ thần kinh tự chủ, chi phối đời sống, điều hòa, điều khiển các cơ quan nội tạng như: tuần hoàn, dinh dưỡng, hô hấp, bài tiết, chuyển hóa các chất trong cơ thể. Hoạt động ngoài ý muốn chủ quan của con người, nhưng chịu sự điều khiển của vỏ não.

Trung tâm của hệ thần kinh tự chủ (TKTV) nằm trong trụ não và tủy sống. Hệ này có cấu tạo từ nhiều hạch và đám rối thần kinh thực vật nằm ngoài Hệ thần kinh trung ương. Tại não giữa, cầu não, hành não có các nhân phó giao cảm của dây thần kinh số III, VII, IX, X (não giữa có dây III, còn lại là hành cầu).

– Đoạn tủy cùng: Từ S2 đến S4 có các sợi phó giao cảm đi ra chi phối các cơ quan nằm trong hông chậu bé, bàng quang, tử cung, trực tràng, sinh dục.

– Đoạn tủy ngực: Từ T1, T2 đến thắt lưng L3, L4 là sợi thần kinh Giao cảm.

– Đoạn tủy sống cổ và thắt lưng L4, L5, S5 không có các dây thần kinh thực vật đi ra.

Nhiều hạch TKTV tập hợp thành đám rối TKTV, từ đám rối phát ra các sợi giao cảm và phó giao cảm đi vào các nội tạng.

Hệ giao cảm.

Hệ giao cảm bắt nguồn từ sừng bên tủy sống từ T1 đến T4 chi phối cơ quan tiêu hóa, cơ Tim, cơ trơn. Chất chuyền đạt của hệ giao cảm là Noadrenalin.

Hệ phó giao cảm.

Hệ phó giao cảm bắt nguồn từ giữa cầu não, hành não và đoạn tủy cùng S2 đến S4 vào cơ trơn của mắt, thần kinh, .v…v…Chất dẫn truyền của hệ PGC là Acetylcholin.

Sự tương quan giữa Thần kinh giao cảm và Phó giao cảm.

Hệ Phó giao cảm không chi phối các cơ quan, tuyến mồ hôi và đa số các mạch máu.  Sự tác động tới các cơ quan mà hệ giao cảm và phó giao cảm cùng chi phối đối lập nhau. Nhưng không vì thế mà nói 2 hệ đó đối lập nhau, mà là phối hợp nhau và bổ sung cho nhau, điều hòa lẫn nhau làm cho cơ quan mà nó chi phối hoạt động bình thường. Khi cơ thể bình thường thì hai hệ này hoạt động bình thường, khi mất cân đối thì bệnh lý xuất hiện.

Ví dụ:

Cơ quan

Hệ Giao cảm Hệ Phó Giao cảm
Đồng tử Kích thích làm giãn Kích thích co lại
Tim Đập nhanh, mạnh

Đập chậm, yếu

HỆ THẦN KINH GIAO CẢM

HỆ THẦN KINH PHÓ GIAO CẢM

I.4. Mốc nhận biết đốt sống theo giải phẫu

MỐC NHẬN BIẾT ĐỐT SỐNG THEO GIẢI PHẪU

Đốt sống C1 không có gai, nằm sát hộp sọ nên ta không sờ thấy được. Đốt thấy là C2.

– Đốt sống C7 dịch động khi ta đặt Tay lên gáy và cho đầu bệnh nhân gật nhẹ.

– Đốt T1 lồi cao sát C7 và không dịch động khi cho đầu bệnh nhân gật nhẹ.

– Đốt T3 nằm trên đường thẳng nối bờ trong trên của hai xương bả vai.

– Đốt T7 nằm trên đường thẳng nối hai góc dưới của xương bả vai.

– Đốt L2 nằm trên đường thẳng nối hai đầu xương sườn cụt (chỗ cơ lưng thắt lại).

– Đốt L4 nằm trên đường thẳng nối hai bờ trên xương chậu.

I.5. Phân vùng hệ cột sống theo phương pháp TĐCS

Giải phẫu học hiện đại chia hệ cột sống làm 5 khu vực:

  1. Khu cổ, ký hiệu bằng chữ C (của từ Carvicals có nghĩa là đốt cổ), gồm 7 đốt từ C1 đến C7.
  2. Khu lưng, ký hiệu bằng chữ T (Thoracalis), gồm 12 đốt từ T1 đến T12.
  3. Khu thắt lưng, ký hiệu bằng chữ L (Lumbar), gồm 5 đốt từ L1 đến L5.
  4. Khu hông, ký hiệu bằng chữ S (Sacral), gồm 5 đốt từ S1 đến S5.
  5. Khu cụt, vẫn dùng nguyên từ Cocoyx.

Phương pháp tác động cột sống phân chia hệ cột sống thành 9 khu vực khác nhau gồm:

  1. Khu cổ trên C1 ÷ C3: 3 đốt (Tam giác cơ số 1).
  2. Khu cổ dưới C4 ÷ C7: 4 đốt (Tam giác cơ số 2).
  3. Khu trên lưng trên T1 ÷ T3: 3 đốt (Tam giác cơ số 3).
  4. Khu dưới lưng trên T4 ÷ T7: 4 đốt (Tam giác cơ số 4).
  5. Khu trên lưng giữa T8 ÷ T9: 2 đốt (Tam giác cơ số 5).
  6. Khu dưới lưng giữa T10 ÷ T12: 3 đốt (Tam giác cơ số 6).
  7. Khu thắt lưng L1 ÷ L5: 5 đốt (Tam giác cơ số 7).
  8. Khu hông 5 đốt liên tảng S1 ÷ S5 (Tam giác cơ số 8).
  9. Khu cụt Coccxy liên tảng Cx (Tam giác cơ số 9).

Như vậy, giải phẫu học hiện đại phân chia cột sống theo hình thái học là chủ yếu, còn phương pháp tác động cột sống thì phân chia theo yêu cầu xử lý và tác động thích hợp cho từng khu vực, nhưng tên gọi và ký hiệu vẫn được giữ nguyên như y học hiện đại đang sử dụng.

Phương pháp TĐCS đã đi sâu tìm hiểu kỹ về sự biến đổi của từng đốt sống, nhìn nghiêng là sự lồi, lõm; nhìn thẳng là sự lệch, lồi lệch, lõm lệch biểu hiện trên hình thái cột sống.

Ngoài ra còn căn cứ vào những phản ứng, phản xạ cụ thể về nhiệt độ các khu vực, về co cơ, về cảm giác chủ quan của người bệnh, cùng với những biến đổi về cấu trúc của cột sống để hợp thành những cơ sở cho việc đoán định các khu vực bệnh lý cần giải quyết.

SƠ ĐỒ PHÂN KHU CỘT SỐNG

Do đó, quan sát hình thái cột sống là một khâu quan trọng trong quá trình chẩn và trị bệnh. Hơn thế nữa, Cảm giác chủ quan trên đầu ngón tay của người thầy thuốc phải được coi như một trong những công cụ quan trọng nhất của kỹ thuật chẩn và trị bệnh; yêu cầu đó đòi hỏi người thầy thuốc chữa bệnh bằng phương pháp TĐCS không được sao nhãng, không được bỏ qua việc rèn luyện ngón tay để thăm khám trực tiếp trên cột sống, tạo khả năng đi sâu vào các chi tiết nhỏ bé nhất trong khu vực bệnh lý biểu hiện trên cột sống.

I.6. Hiện tượng đốt sống không bình thường

Hiện tượng đốt sống không bình thường gồm 2 phần:

– Hình thái đầu gai sống không bình thường.

– Hình thái lớp cơ đệm trên đầu gai sống không bình thường.

 

I.6.1. Đặc điểm và hình thái đốt sống không bình thường

Khi các đốt sống không bình thường, ta gặp các hình thái biến đổi của đốt sống như sau:

I.6.1.1. Hình thái đốt sống Lồi.

Đốt sống lồi ra phía sau bao gồm các hiện tượng:

  • Đốt sống lồi ra phía sau toàn phần.
  • Đầu gai sống lồi cân phần trên ra phía sau.
  • Đầu gai sống lồi cân phần dưới ra phía sau.
  • Nhiều đốt sống liền nhau lồi ra phía sau.

I.6.1.2. Hình thái đốt sống Lõm.

Đầu gai sống lõm cân đưa ra phía trước gồm có:

  • Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về trước.
  • Đầu gai sống lõm cân, phần trên đưa ra phía trước.
  • Đầu gai sống lõm cân, phần dưới đưa về phía trước.
  • Nhiều đốt sống lõm liền nhau đưa về phía trước.

I.6.1.3. Hình thái đốt sống Lệch.

Đốt sống không lồi, không lõm mà lệch về một bên phải hoặc trái gồm có:

– Đầu gai sống lệch cân về một bên phải (hoặc trái).

– Đầu gai sống lệch một góc trên về một bên phải (hoặc trái).

– Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải (hoặc trái).

– Nhiều đốt sống lệch về một bên phải (hoặc trái).

I.6.1.4. Hình thái đốt sống Lồi Lệch

Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có:

  • Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch cân về một bên phải (hoặc trái).
  • Đầu gai sống có một góc trên lồi và lệch về một bên phải (hoặc trái).
  • Đầu gai sống có một góc dưới lồi và lệch về một bên phải (hoặc trái).
  • Nhiều đốt sống liền nhau lồi và lệch về một bên phải (hoặc trái).

I.6.1.5. Hình thái đốt sống Lõm Lệch.

Đốt sống lõm ra phía trước và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có:

  •  Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên phải (hoặc trái).
  • Đầu gai sống lõm về phía trước và một góc trên lệch về một bên phải (hoặc trái).
  • Đầu gai sống lõm về phía trước và một góc dưới lệch về một bên phải (hoặc trái).
  • Nhiều đốt sống liền nhau lõm về phía trước và lệch về một bên phải (hoặc trái).

I.6.2. Hình thái đầu gai sống không bình thường

  1.  Đầu gai sống của đốt sống lồi có hình thái to hơn các đầu gai sống của các đốt sống bình thường.
  2. Đầu gai sống của đốt sống lồi lệch có hình thái to hơn và đưa lệch về phía phải (hoặc trái).
  3. Đầu gai sống của đốt sống lệch có hình thái bình thường như những đốt sống khác nhưng lệch về phía phải (hoặc trái).
  4. Đầu gai sống của đốt sống lõm lệch có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường, nhưng đưa lệch về phía phải (hoặc trái).

Đầu gai sống của các đốt sống lõm có hình thái nhỏ hơn các đầu gai của đốt sống bình thường, nhưng đầu gai của các đốt sống còn có dạng như sau:

– Đầu gai sần sù như mẩu xương.

– Đầu gai nhẵn nhụi như bình thường.

– Đầu gai sống có lớp gai như răng cá ở hai bên phải và trái của gai sống.

– Đầu gai sống lõm xuống, ở đốt trên và đốt dưới của đốt sống lõm nổi lên thành hai gờ trên và dưới đè đốt sống lõm xuống.

BẢNG HÌNH THÁI VÀ BIỂU HIỆN CỦA ĐỐT SỐNG

Hình thái đốt sống Biểu hiện của đốt sống theo quan sát
Đốt sống đơn lồi Có một đốt sống lồi cao hơn bình thường khi nhìn nghiêng
Đốt sống đơn lõm Có một đốt sống lõm thấp hơn bình thường khi nhìn nghiêng
Đốt sống đơn lệch Có một đốt sống lệch sang một bên khi nhìn thẳng
Đốt sống đơn lồi lệch Có một đốt sống lồi và lệch sang một bên
Đốt sống đơn lõm lệch Có một đốt sống lõm và lệch sang một bên
Đốt sống liên lồi Có từ hai đốt sống liền nhau lồi cao hơn khi nhìn nghiêng
Đốt sống liên lõm Có từ hai đốt sống lõm hơn khi nhìn nghiêng
Đốt sống liên lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lệch sang một bên khi nhìn thẳng
Đốt sống liên lồi lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lồi và lệch sang một bên
Đốt sống liên lõm lệch Có từ hai đốt sống liền nhau lõm và lệch sang một bên

 

I.6.3. Đặc tính của đốt sống không bình thường

Các đốt sống bệnh lý thì dù ở hình thái nào (lồi, lệch hay lõm…) bao giờ cũng có biểu hiện dính cứng ở một hay nhiều đốt sống. Có trường hợp đốt sống chỉ bị dính cứng phần trên hoặc góc trên với đốt trên. Hoặc có trường hợp đốt sống chỉ bị dính phần dưới hoặc góc dưới (hình thái đơn lệch). Lại có trường hợp đốt sống bệnh lý bị dính cả phần trên với đốt sống trên, cả phần dưới với đốt sống dưới (hình thái lệch toàn phần).

Các đốt sống này gọi là các đốt sống bệnh lý và có thể phục hồi được qua thao tác điều trị. Nếu rối loạn ít thì có thể phục hồi ngay qua một lần điều trị. Nếu rối loạn nhiều thì có thể phục hồi dần dần trong quá trình điều trị. Như vậy, trong quá trình điều trị đốt sống bệnh lý có hình thái lồi sẽ bớt lồi và tiến tới hết lồi; đốt sống có hình thái lệch sẽ bớt lệch và hết lệch; Đốt sống có hình thái lõm sẽ bớt và hết lõm.

Điều này chứng tỏ rằng người thầy thuốc khi thao tác trị bệnh tuân thủ đúng các nguyên tắc trị bệnh như: Nguyên tắc định hướng, định lượng, định lực… và các phương thức, thủ thuật của phương pháp.

BẢNG TỔNG HỢP HÌNH THÁI ĐỐT SỐNG BỆNH LÝ

BP BIẾN ĐỔI

HÌNH THÁI ĐỐT SỐNG BỆNH LÝ
Lồi Lõm Lệch Lồi lệch Lõm lệch
Toàn phần x x x X X
Góc trên x x x X X
Góc dưới x x x X X
Liên đốt sống x x x X

X

 

II. LỚP CƠ

II.1. Tìm hiểu về cơ

 còn gọi là bắp thịt, là một phần của hệ vận động. Mô cơ là một loại mô liên kết trong cơ thể động vật.

Mô cơ gồm 3 loại: Mô cơ vân (hay còn gọi là cơ xương), mô cơ tim, mô cơ trơn.

 

CƠ TIM

Chức năng của mô cơ là co dãn, tạo nên sự vận động, tạo nhiệt cho cơ thể, duy trì các tư thế và làm dịch chuyển các chất…v.v…

Hệ cơ vân gồm có hai đầu bám vào xương: Một đầu là nguyên ủy đầu kia là bám tận. Cũng có khi một đầu bám vào xương còn đầu kia bám vào da như cơ mặt, cơ bụng.

Dưới sự chỉ đạo của hệ thần kinh, cơ co làm cho xương cử động vì thế còn gọi cơ này là cơ xương.

Xem bài giảng về lớp cơ tại đây: 

https://benhviencotsong.vn/dac-trung-co-ban-dac-trung-lop-co_phan-i-lop-co-la-bi-mat-cua-phuong-phap-tac-dong-cot-song-hieu-ve-lop-co-moi.html

Bắp cơ gồm nhiều bó cơ, mỗi bó cơ hợp thành từ nhiều sợi cơ. Mỗi sợi cơ sẽ gắn với một đầu tận cùng thần kinh và được tạo thành bởi vô số những sợi nhỏ gọi là tơ cơ. Đây chính là các đơn vị co cơ cơ bản. Các sợi này xếp chồng lên nhau tạo thành các vân sáng, vân tối xen kẽ (vì vậy còn gọi là cơ vân).

Trong bắp cơ có nhiều mạch máu và dây thần kinh, chia thành nhiều nhánh nhỏ đi đến từng sợi cơ. Nhờ thế mà cơ tiếp nhận được chất dinh dưỡng, các chất kích thích và các khoáng chất vi lượng khác mà cơ thể cần.

II.2. Hoạt động của cơ

Khi các tơ cơ mảnh xâm nhập vào vùng phân bố của các tơ cơ dày sẽ khiến tơ cơ rút ngắn về chiều dài và phình to tạo nên sự co cơ.

II.3. Phương pháp tđcs phân chia các hình thái lớp cơ

Căn cứ vào sự biến đổi của lớp cơ khi các đốt sống tương ứng bị biến đổi, phương pháp TĐCS quan niệm và phân chia các hình thái lớp cơ như sau:

– Lớp cơ Thư nhuận (bình thường).

– Lớp cơ co cứng căng như mặt trống.

– Lớp cơ co dày.

– Lớp cơ co mỏng.

– Lớp cơ mềm dày.

– Lớp cơ mềm mỏng (Là hậu quả biến đổi đột ngột của sự tác động quá lực, nếu không điều chỉnh lại sẽ gây ra một sự rối loạn mới. Vì vậy phải lập tức tác động ngay bên đối xứng của trọng điểm để cho lớp cơ mềm mỏng đó được phục hồi lại ngay).

– Lớp cơ sợi.

– Lớp cơ teo ngược.

II.4. Hình thái lớp cơ

II.4.1. Đặc điểm và hình thái lớp cơ trên các đốt sống không bình thường

Khi đốt sống có hiện tượng bất thường thì lớp cơ trên đầu gai sống cũng thay đổi hình thái khác thường tùy thuộc vào 5 hiện tượng của đốt sống không bình thường, lớp cơ đầu gai sống thể hiện dày cộm hay teo mỏng như sau:

II.4.1.1. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi

Đầu gai sống lồi cân toàn phần đưa về phía sau bao gồm các hình thái:

– Đầu gai sống lồi ra sau toàn phần thì lớp cơ trên đốt sống đó dày cộm hẳn lên, dày hơn lớp cơ trên các đốt sống bình thường.

– Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần trên ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dày cộm hơn các đốt sống bình thường.

– Đầu gai sống có hiện tượng lồi cân ở phần dưới ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dày cộm hơn các đốt sống bình thường.

– Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau thì lớp cơ trên phần lồi đó dày cộm hơn các khu vực bình thường.

II.4.1.2. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lõm

Đầu gai sống lõm cân toàn phần đưa về phía trước gồm các hình thái:

– Đốt sống lõm cân về phía trước thì lớp cơ ở đầu đốt sống lõm teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.

– Đốt sống lõm phần trên đưa về phía trước thì lớp cơ ở chỗ lõm đó bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.

– Đốt sống lõm phần dưới đưa về phía trước thì lớp cơ ở chỗ lõm đó bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống bình thường.

– Nhiều đốt sống liền nhau lõm (liên lõm) đưa về phía trước thì lớp cơ cả khu vực đó đều bị teo mỏng hơn lớp cơ của khu vực các đốt sống bình thường.

 

II.4.1.3. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lệch

Đốt sống lệch là đốt sống không lồi và không lõm, nhưng lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm các hình thái:

– Đầu gai sống lệch cân về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở đốt sống lệch đó dày cộm hơn khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống đó bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.

– Đầu gai sống lệch một bên góc trên về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dày cộm hơn khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường.

– Đầu gai sống lệch một góc dưới về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở trên góc lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng của đốt sống đó bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường.

– Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lệch về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở khu vực lệch đó dày cộm hơn các khu vực bình thường và lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống lệch bị khuyết mỏng hơn lớp cơ của khu vực bình thường.

II.4.1.4. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lồi Lệch

Đốt sống lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có các hình thái:

– Đầu gai sống lồi ra phía sau và lệch cân về một bên thì lớp cơ bên lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường, còn lớp cơ bên đối xứng bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.

– Đầu gai sống có một góc trên lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở góc lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường và bên đối xứng của đốt sống đó lớp cơ bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.

– Đầu gai sống có một góc dưới lồi ra phía sau và lệch về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở góc lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường và bên đối xứng của đốt sống đó lớp cơ bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.

– Đầu gai sống của nhiều đốt liền nhau lồi ra phía sau và lệch (liên lồi lệch) về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở khu vực liên lồi lệch đó dày cộm hơn các đốt sống của khu vực bình thường và lớp cơ bên đối xứng của các đốt sống đó bị khuyết mỏng hơn khu vực bình thường.

II.4.1.5. Hình thái lớp cơ trên đốt sống Lõm Lệch

Đốt sống lõm ra phía trước và lệch về một bên phải (hoặc trái) gồm có các hình thái:

– Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch cân về một bên thì lớp cơ đầu gai sống bị teo mỏng hơn các lớp cơ ở khu vực bình thường, đặc biệt phía bên lệch lớp cơ bị cứng và lớp cơ bên đối xứng bị khuyết lõm.

– Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc phần trên ở phía bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ đầu gai sống teo mỏng hơn các lớp cơ của các đốt sống ở khu vực bình thường, ngoài ra lớp cơ phía góc lệch đó bị co cứng và ở bên đối xứng của đốt sống bị khuyết lõm.

– Đầu gai sống lõm về phía trước và lệch một góc phần dưới ở phía bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ đầu gai sống teo mỏng hơn các lớp cơ của các đốt sống ở khu vực bình thường, đặc biệt là phía góc lệch đó lớp cơ bị co cứng mà phía bên đối xứng của đốt sống lớp cơ bị khuyết lõm.

– Nhiều đốt liền nhau lõm về phía trước và lệch (liên lõm lệch) về một bên phải (hoặc trái) thì lớp cơ ở bên lệch co cứng mà bên đối xứng của đốt sống, lớp cơ bị khuyết lõm.

II.4.1.6. Hình thái lớp cơ dày cộm

Lớp cơ dày cộm ở trên đốt sống không bình thường có các hình thái:

– Hình thái cơ Thư nhuận: Khi ấn, miết, vê thấy lớp cơ có vẻ Thư nhuận như những lớp cơ bình thường.

– Hình thái cơ cứng: Khi ấn, miết, vê thấy lớp cơ đó bị cứng hơn lớp cơ Thư nhuận.

– Hình thái cơ mềm: Khi ấn, miết và vê thấy lớp cơ đó mềm và nát hơn các lớp cơ Thư nhuận bình thường.

Tất cả các hình thái lớp cơ này khi miết Tay lên đầu gai sống đều thấy có cộm cợn ở dưới. Cộm ít là mỏng, cộm nhiều là dày. Khi đẩy không chuyển động.

II.4.1.7. Hình thái lớp cơ thành sợi

Lớp cơ thành sợi trên đốt sống không bình thường có các hình thái:

– Hình thái sợi tròn to: Khi miết ta cảm thấy chuyển động, có hình dạng thành sợi như dây thừng, ấn không tan và Dai chắc.

– Hình thái sợi xơ cứng: Khi miết ta cảm thấy những sợi xơ nhỏ này căng và cứng, ấn không tan và Dai chắc. Có trường hợp thể hiện thành đám rộng, hẹp khác nhau, nhưng xếp theo một chiều như ta xếp bó tăm, miết trên lớp cơ này thấy lăn tăn chuyển động.

– Hình thái sợi xơ rối: Gồm nhiều lớp mỏng co cứng lại xếp chồng lên nhau, khi miết trên thể này thấy Lăn tăn rất nhỏ hình dung như cục tóc rối bám chắc trên đầu gai sống.

– Hình thái sợi dẹt dày to: Khi miết và vê cảm thấy dải dẹt, Dai chắc. Miết trượt thấy chuyển động hình dung như một sợi dẹt dài ngắn khác nhau.

– Hình thái sợi dẹt mỏng: Khi miết và vê thấy nhiều lớp mỏng co cứng xếp chồng lên nhau không thành sợi dài, khi miết trượt ta thấy chuyển động và thành lớp Lăn tăn co cứng.

I.4.1.8. Hình thái lớp cơ teo mỏng

Lớp cơ teo mỏng trên đốt sống không bình thường có các hình thái:

– Hình thái lớp cơ teo mỏng: Khi miết và vê trên đốt sống không bình thường ta cảm thấy lớp cơ trên đầu gai sống bị teo mỏng hơn lớp cơ ở các đốt sống không bình thường. Đặt Tay lên đầu gai sống chỉ cảm thấy có lớp da mỏng phủ trên đầu gai sống mà không thấy lớp cơ đệm.

– Hình thái lớp cơ khuyết lõm: Khi miết và vê trên đốt sống khuyết lõm ta cảm thấy như đầu gai sống khuyết đi, mà lớp cơ ở chỗ khuyết đó bị lõm sâu xuống khác thường.

II.4.2. Đặc tính lớp cơ

– Có thể dùng thủ thuật trị bệnh ứng dụng theo các nguyên tắc, phương thức của phương pháp để làm thay đổi hình thái lớp cơ.

Trong khi thao tác trị bệnh người thầy thuốc cần tập trung theo dõi cảm giác trên đầu ngón tay, nhận thấy lớp cơ thay đổi từ co cứng và dầy sẽ bớt cứng và mềm trở lại; lớp cơ thư nhuận như bình thường; lớp cơ nhược sẽ phục hồi dần, hết nhược rồi trở lại độ thư nhuận bình thường.

– Khi lớp cơ đã Thư nhuận bình thường là ổ bệnh đã được giải tỏa nên thao tác đến ngưỡng thì phải ngừng ngay. Vì khi lớp cơ bệnh lý được giải tỏa sẽ có hiện tượng báo đến ngưỡng tiếp nhận. Nếu ta vẫn cứ tiếp tục tác động quá ngưỡng thì lớp cơ sẽ có phản vệ co lại. Hiệu quả vừa đạt được sẽ bị xóa hoàn toàn. Lớp cơ bị tác động quá nhiều có thể bị sưng đau, người bệnh lại có cảm giác khó chịu như ban đầu.

CƠ CO CỨNG PHẢI ĐẮP BỘT CUA ĐỒNG

– Lớp cơ co cứng như mặt trống: Những trường hợp này chỉ có thể làm lớp cơ thay đổi bằng cách đắp bột cua đồng, phối hợp với thủ thuật mới có thể phục hồi được sự Thư nhuận của lớp cơ.

– Lớp cơ co dầy: Gây cảm giác rất đau nhưng khả năng phục hồi rất nhanh. Có khi thầy thuốc dùng thủ thuật chỉ một lần điều trị tại trọng điểm đã hết co.

– Lớp cơ co mỏng: Phải điều trị lâu dài mới hồi phục được. Những lớp cơ này tương ứng với những bệnh và những ổ bệnh đã có tổn thương thực tế.

– Lớp cơ mềm dày: Tương ứng với các dạng nhiễm trùng Lao, vì vậy phải kết hợp dùng thuốc chống Lao trong quá trình điều trị mới giải tỏa được.

– Lớp cơ mềm mỏng: Không gặp trong trạng thái bệnh lý. Mà chính là hậu quả biến đổi đột ngột của sự tác động quá lực. Nếu không điều chỉnh lại sẽ gây ra một sự rối loạn mới. Vì vậy gặp trường hợp này thầy thuốc phải lập tức tác động ngay bên đối xứng của trọng tâm để cho lớp cơ mềm mỏng đó được phục hồi ngay.

– Lớp cơ xơ sợi: Chỉ gặp trong lớp cơ sâu của các đốt sống bị khuyết lõm, ít gặp trong các đốt sống lệch và không gặp trong đốt sống lồi. Hình thái này chỉ thay đổi khi thầy thuốc đã giải tỏa được các đốt sống lồi hoặc lồi lệch ở phía trên của các đốt sống lõm bệnh lý ấy.

– Lớp cơ teo ngược: Chỉ phục hồi khi đã giải tỏa những lớp cơ co cộm ở phía trên của những chỗ có cơ teo nhược.

BẢNG TỔNG HỢP HÌNH THÁI LỚP CƠ

(Trên đầu gai đốt sống biến đổi)

HÌNH THÁI LỚP CƠ TRÊN ĐỐT SỐNG LỒI VÀ LIÊN LỒI

 HÌNH THÁI LỚP CƠ TRÊN ĐỐT SỐNG LỆCH VÀ LIÊN LỆCH

HÌNH THÁI LỚP CƠ TRÊN ĐỐT SỐNG LỒI LỆCH VÀ LIÊN LỒI LỆCH

HÌNH THÁI LỚP CƠ TRÊN ĐỐT SỐNG LÕM, LIÊN LÕM VÀ LÕM LỆCH, LIÊN LÕM LỆCH

III. NHIỆT ĐỘ DA

Phương pháp TĐCS coi nhiệt độ da các vùng trên cơ thể đều bình thường là biểu hiện của cơ thể khỏe mạnh và nhiệt độ da không bình thường là biểu hiện của cơ thể đang ở trong tình trạng bệnh lý.

Khi cơ thể có bệnh, nhiệt độ da biểu hiện ba trạng thái:

– Cao hơn bình thường.

– Thấp hơn bình thường.

– Nhiệt độ da rối loạn.

Phương pháp TĐCS coi nhiệt độ da là cơ sở cơ bản để chẩn bệnh và theo dõi trong khi trị bệnh nên đã chia nhiệt độ da ra làm ba lĩnh vực:

– Nhiệt độ địa phương.

– Nhiệt độ trọng khu, trọng điểm.

– Nhiệt độ vùng liên quan đến chức năng nội tạng.

III.1. Nhiệt độ địa phương

– Là nhiệt độ trong cơ thể khỏe mạnh bình thường được chia ra 14 vùng sắp xếp theo nhiệt độ sinh lý lúc bình thường từ thấp nhất đến cao nhất để làm nhiệt độ chuẩn so sánh với nhiệt độ bệnh lý.

  1. Vách mũi, đuôi Tai, ngón chân cái, trung bình từ 25 đến 28 độ C.
  2. Ngón Tay trỏ.
  3. Mu bàn chân
  4. Cổ chân.
  5. Mu bàn Tay, thắt lưng.
  6. Bắp chân.
  7. Cẳng Tay.
  8. Cơ mông.
  9. Cổ Tay.
  10. Lưng, vai, cánh Tay.
  11. Ngực, bụng.
  12. Trán, gò má.
  13. Cổ, gáy.
  14. Vùng nách, dưới lưỡi, hậu môn, trung bình 36,9 độ C.

Nhiệt độ da ở cơ thể khỏe mạnh có thể thay đổi tạm thời trong các trường hợp:

– Theo hoạt động như: Lao động, nghỉ ngơi, tập luyện thể thao…

– Có sự thay đổi đột ngột về tâm lý (buồn, lo, suy nghĩ, tức giận, hoảng loạn…).

– Theo trạng thái cơ thể (đói, no…).

– Tùy theo thời gian: Sáng, trưa, tối.

– Tùy theo mùa mà có thể có những thay đổi khác nhau ở từng cá thể con người.

– Tùy theo vị trí của từng bộ phận cơ thể.

Những trường hợp thay đổi nhiệt độ da tức thời như đã nói ở trên thường nhiệt độ ấy không kéo dài và vẫn được coi là nhiệt độ sinh lý bình thường.

Chẳng hạn như người mẹ đang cho con bú thì nhiệt độ vùng vai phải và vùng thắt lưng nóng cao. Khi con ngừng bú thì nhiệt độ trở lại bình thường. Hiện tượng này được coi là hoạt động sinh lý bình thường mà không phải là hiện tượng bệnh lý.

III.2. Nhiệt độ vùng liên quan đến chức năng nội tạng

  1. Vùng cổ, vai, ngực trái: Liên quan chức năng tuần hoàn, Tim mạch.
  2. Vùng cổ phải: Liên quan chức năng hô hấp.
  3. Vùng mỏm vai phải: Liên quan chức năng mật.
  4. Vùng hạ sườn phải: Liên quan chức năng gan.
  5. Vùng mỏ ác: Liên quan chức năng dạ dày.
  6. Vùng giữa lưng: Liên quan chức năng lá lách, các tuyến nội tiết, tuyến tụy, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận.
  7. Vùng thắt lưng: Liên quan chức năng thận. Bên phải thận tiết niệu, bên trái thận sinh dục.
  8. Vùng khe mông: Liên quan chức năng tử cung, vòi trứng, cơ quan sinh dục.
  9. Vùng trước rốn: Liên quan chức năng ruột Non.
  10. Vùng bụng dưới: Liên quan chức năng bàng quang, tiết niệu.
  11. Vùng chẩm: Liên quan chức năng đại tràng.

III.3. Nhiệt độ trọng khu, trọng điểm

Là nhiệt độ phạm vi cột sống trong khu vực có ổ rối loạn và điểm rối loạn.

Kết luận: Hiện tượng nhiệt độ da thay đổi có liên quan chặt chẽ tới:

  • Tổn thương cột sống.
  • Tình trạng cứng mềm của lớp cơ.
  • Bệnh ở phủ tạng và các bộ phận cơ thể.

III.4. Đặc tính của nhiệt độ da

Trong phương pháp TĐCS, nhiệt độ da đóng vai trò quan trọng giúp thăm khám và theo dõi trong quá trình điều trị vì chỉ cơ thể có bệnh thì nhiệt độ sinh lý mới thay đổi.

Nhiệt độ da biến đổi rất nhạy trên cơ thể người bệnh trong thao tác điều trị. Cụ thể là trên cùng một người bệnh, có lần thầy thuốc chỉ mới tác động độ 2-3 giây đồng hồ thì nhiệt độ cơ thể đã có thay đổi. Nhưng cũng có lần tác động đến 20 hay 30 giây mới có phản xạ báo đến ngưỡng định lượng mà cơ thể người bệnh tiếp nhận được.

Cơ thể người bệnh chỉ có thể tiếp nhận được một lượng thao tác thích hợp nhất định cho mỗi lần điều trị thì mới có hiệu quả gọi là ngưỡng. Nhiệt độ da biến đổi không phụ thuộc vào ngưỡng tiếp nhận này của cơ thể người bệnh do đó khi điều trị người thầy thuốc phải chú ý đến ba trường hợp sau:

  1. Khi tác động đúng trọng điểm, nhiệt độ da có thể biến đổi nhưng chưa đạt ngưỡng thì phải chẩn để tìm trọng điểm mới, tiếp tục điều trị cho đến ngưỡng mới được ngừng thao tác.
  2. Khi cơ thể người bệnh đã có phản xạ đến ngưỡng định lượng thì mặc dù chưa giải tỏa được hoàn toàn ổ rối loạn và nhiệt độ đã biến đổi vẫn phải ngừng thao tác chờ lần điều trị sau.
  3. Nhiệt độ da chỉ trở lại bình thường khi ổ rối loạn đã được giải tỏa hoàn toàn nên ta phải theo dõi khi thao tác điều trị sau ít giây nếu thấy:

+ Nhiệt độ da biến đổi thuận chiều (đang cao thì hạ dần, đang thấp thì tăng dần) thì có nghĩa là ta đã thao tác đúng trọng điểm vì vậy tiếp tục thao tác cho đến ngưỡng).

+ Nếu nhiệt độ da không thay đổi thì ta phải xác định lại đúng trọng điểm để tiếp tục chữa.

+ Nếu nhiệt độ da biến đổi nghịch chiều thì ta phải lập tức dừng thao tác và xóa bằng cách tác động trả lớp cơ bên đối diện rồi nghỉ chờ buổi sau mới được chữa.

IV. CẢM GIÁC

Cơ thể con người có nhiều cảm giác khác nhau nhưng phương pháp TĐCS chỉ căn cứ vào cảm giác đau tăng lên hoặc giảm trên hệ cột sống để chuẩn đoán và điều trị bệnh.

Phương pháp TĐCS phân biệt cảm giác đau tăng hoặc giảm thành hai dạng:

– Cảm giác đau bệnh lý: Là cảm giác đau khu trú ở một vùng nhất định trên cột sống mà người bệnh tự nhận biết được. Ví dụ cột sống bị vôi hóa, cột sống bị gai đôi, cột sống trượt đĩa đệm…

– Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lý: Là cảm giác đau trên cột sống mà người bệnh chỉ nhận biết được khi thầy thuốc dùng thủ thuật tác động vào đúng vị trí đó. Đây là hiện tượng có liên quan đến bệnh lý của các cơ quan nội tạng và mọi bộ phận cơ thể.

Trong khi chẩn bệnh, phương pháp TĐCS còn chú ý tới mối liên quan của cảm giác đau hoặc cảm giác giảm với các đặc trưng bệnh lý.

Trên đốt sống lồi, lồi lệch và lệch, thì ở nơi cao nhất hoặc lệch nhất trên đầu gai sống biểu hiện lớp cơ co cộm, nhiệt độ nóng cao. Khi đặt ngón Tay tác động trên lớp cơ thì người bệnh có cảm giác đau tăng.

Trên các đốt sống lõm hoặc lõm lệch thì ở nơi lõm sâu nhất trên đầu gai sống biểu hiện lớp cơ teo nhược nhiệt độ thấp và cảm giác giảm. Khi dùng thủ thuật tác động tại chỗ đó thì người bệnh cũng không nhận biết rõ ràng về cảm giác.

IV.1. Ứng dụng cảm giác đau trong chẩn bệnh

Cảm giác đau của hiện tượng bệnh lý thường khu trú trên một diện rộng, có thể từ một đến nhiều đốt liền nhau nhưng trong đó bao giờ cũng phải có một điểm nhỏ, có cảm giác đau nhất. Điểm đau nhất này ta có thể nhận biết được bằng sự phản ứng của cơ thể người bệnh như: giật thót mình hoặc phản ứng của hệ cột sống như oằn lún lưng, cong gù lưng, hoặc vặn vẹo qua phải hay trái. Điểm nhỏ, có cảm giác đau nhất này được coi là trọng tâm của hiện tượng bệnh lý khu trú ở trên hệ cột sống. Phương pháp TĐCS quy định là Trọng điểm.

Trọng điểm được coi là căn cứ để chẩn đoán quy nạp mối liên quan của các bộ phận của cơ thể bị rối loạn vì có liên quan với các đặc trưng bệnh lý: lớp cơ co dày nhất, nhiệt độ cao nhất, chỗ xương lồi hay lệch nhất và là điểm đau nhất.

Điểm đau của hiện tượng bệnh lý là một đặc điểm không chỉ khu trú ở trọng điểm trên hệ cột sống mà còn biểu hiện ở nhiều khu vực khác nữa, cụ thể:

– Khi ta đã phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau thường trú trên những đốt sống Lồi bệnh lý thì ngay trên hệ cột sống cũng có điểm đau liên quan ở phía trên hoặc dưới điểm đau ấy.

– Khi ta phát hiện trên hệ cột sống có điểm đau những đốt sống lồi lệch và lệch thì ngoài phạm vi cột sống cũng có điểm đau khu trú ở gần hoặc xa cột sống tương ứng với trọng điểm gọi là điểm đối động. Những điểm đau ở ngoài phạm vi cột sống thường khu trú ở nhiều vị trí khác nhau theo độ ngang, chếch, chéo lên hoặc chéo xuống. Có nhiều trường hợp chạy lên vòng quanh thân mình ra phía trước tận cùng ở bờ xương ức, xương mu hoặc xương chậu phía bên kia.

Những điểm đối động này thường liên quan với lớp cơ co Dai chắc và cũng là cơ sở để quy nạp chẩn đoán bệnh theo phương thức Đối động.

IV.2. Ứng dụng của cảm giác đau trong quá trình điều trị

Phương pháp TĐCS căn cứ vào hình thái lớp cơ, nhiệt độ và sự biến đổi đốt sống cùng tính chất đau tại trọng điểm để chẩn đoán bệnh.

Cảm giác đau tăng hoặc giảm trên hệ cột sống người bệnh để chẩn và theo dõi trong quá trình trị bệnh chủ yếu là cảm giác đau của hiện tượng bệnh lý. Đây là cảm giác đau khi thầy thuốc tác động bằng thủ thuật tại trọng điểm.

– Khi điều trị tác động đúng trọng điểm thì người bệnh thấy đau nhưng dễ chịu. Cảm giác đau sẽ giảm dần cho đến khi hết đau thì ổ bệnh đã được giải tỏa.

– Cảm giác đau cùng nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống lồi bệnh lý tác động vào điểm đau liên quan ở trên hoặc dưới trọng điểm, cùng bên với trọng điểm.

– Cảm giác đau vùng nhiệt độ cao biểu hiện trên đốt sống lồi lệch hoặc lệch bệnh lý thì điểm đối động ở gần hoặc xa khác bên với trọng điểm.

– Cảm giác tê biểu hiện khác bên với trọng điểm.

– Cảm giác giảm cùng nhiệt độ thấp biểu hiện trên đốt sống lõm hoặc lõm lệch.

Lưu ý: Căn cứ vào đặc tính của cảm giác nói trên, phương pháp TĐCS quy định: Trong quá trình thao tác, nếu thấy người bệnh cảm thấy đau tăng và khó chịu thì phải ngừng thao tác. Vì như vậy thao tác chưa đúng trọng điểm, phải xác định lại trọng điểm rồi mới tiến hành thao tác tiếp theo. (Chẳng hạn như tác động đúng mỏm gai đôi là điểm đau bệnh lý, trong khi phương pháp TĐCS nhằm giải tỏa điểm đau của hiện tượng bệnh lý).

Mời các bạn đón đọc Phần III – PHÂN BIỆT LOẠI VÀ THỂ tại đây:

PHẦN III – PHÂN BIỆT LOẠI VÀ THỂ

Trả lời