Xoa bóp thần kỳ đặc hiệu Phương Đông (Yumeiho) của Nhật Bản

Masayuki Saionji

Xoa bóp thần kỳ

đặc hiệu

Phương Đông

(Xoa bóp bấm huyệt chữa bách bệnh)

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN

Masayuki Saionji

XOA BÓP BẤM HUYỆT

CHỮA BÁCH BỆNH

(XOA BÓP THẦN KỲ ĐẶC HIỆU PHƯƠNG ĐÔNG)

Biên dịch: TS.NGUYỄN QUANG

Hiệu đính: NGUYỄN KHẮC MINH

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – THÔNG TIN

Hà Nội – 2003

LỜI NGƯỜI DỊCH

(Xuất bản lần 3)

Nguyên bản cuốn sách này bằng tiếng Nhật tên là XOA BÓP THẦN KỲ ĐẶC HIỆU PHƯƠNG ĐÔNG được NXB Viện Hàn lâm Bắc Kinh xuất bản bằng Quốc tế ngữ Bảo vệ Hòa bình Việt Nam (VPEA) năm 1992 và dịch sang tiếng Việt. Giáo sư So Gilsu, ủy viên Ban chấp hành Hội Quốc tế ngữ thế giới, trong chuyến đi thăm và làm việc tại Hà Nội giữa năm 1992 được biết việc này đã báo tin cho tác giả là ông Masayuki Saionji, Viện trưởng Học viện Phòng bệnh quốc tế Tokyo. Bản thân tác giả đã đến Việt Nam 5 lần để mở lớp huấn luyện và nâng cao về phương pháp này ở cả hai miền Nam Bắc và góp phần tài trợ cho việc xuất bản sách dịch. Tác giả còn cử Mahomed Reza, chuyên viên của mình 4 lần sang mở lớp dạy cho các thầy thuốc Việt Nam.

Đến năm 1996 sách đã được dịch ra 22 thứ tiếng, băng ghi hình về 100 động tác cơ bản của phương pháp cũng đã được lồng tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 9. Ở Việt Nam, bản dịch cuốn sách này đã được in lần đầu tiên bằng điện tử 75 bản để phục vụ cho “Cuộc hội thảo về Y học phương Đông”, trong đó có thuyết trình về lý luận và thao tác thực hành của phương pháp này từ ngày 5 đến ngày mùng 7 tháng 4 năm 1994 do Viện Y học Dân tộc tổ chức tại Trường Đại học Y Hà Nội. Sau đó, sách và băng ghi hình được sử dụng cho các lớp huấn luyện về phương pháp này tại Bệnh viện Vân Đình, Bệnh viện Long An, Bệnh viện Thanh Hóa,..do Reza chuyên viên của Học viện Tokyo huấn luyện.

Sách in lần thứ nhất 1.000 cuốn vào cuối năm 1994 do NXB Y học in và phát hành tại Hà Nội. Sách bán hết ngay trong thời gian ngắn. Theo yêu cầu của độc giả, chúng tôi cho tái bản lần thứ 2 có sửa chữa bổ sung theo cuốn sách mới xuất bản năm 1994 của tác giả, tên sách là “Yumeiho Terapio” (Liệu pháp nâng cao lực sống) xoa bóp chỉnh xương, in tại Tokyo. Sách có sự đóng góp bổ sung của một số giáo sư, bác sĩ.

Phong chào học và chữa bệnh theo phương pháp Yumeiho đã phát triển rộng khắp ở nhiều tỉnh thành ở cả hai miền Năm Bắc. Thể theo yêu cầu của người học, chúng tôi xin phép tác giả để xuất bản lần thứ 3. Sách xuất bản lần này có bổ sung ở phần phụ lục nhiều báo cáo khoa học của các bệnh viện do các bác sĩ theo dõi điều trị viết, các bài viết của bác sĩ, các thầy thuốc ở trong và ngoài nước. Sách có bán tại các hiệu thuốc quốc văn trên toàn quốc.

Độc giả còn có thể mua sách, băng và hỏi thêm để đi sâu vào liệu pháp Yumeiho. Chúng tôi xin sẵn sàng đáp ứng tại các địa chỉ sau: 

– Ông Nguyễn Khắc Minh, số 4 P8 Khu lắp ghép Trương Định, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, ĐT: 6.621850.

– Ông Nguyễn Văn Thảo, 12 Ngõ Tô Hoàng, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

– Ông Nguyễn Hoàng Phi, tổ 38, phường Mai Động, ĐT: 8.628167.

Rất mong các thầy thuốc, các bác sĩ bổ sung cho các kết quả điều trị để lần tái bản sau được tốt hơn.

 

 NGUYỄN QUANG                     

          

  LỜI TỰA

Câu chuyện thần kỳ của thế kỷ XX

SADAJIROKUBO                         

 Chủ tịch Học viện Quốc tế ngữ Nhật Bản, Giám đốc

Viện Bảo tàng nghệ thuật đồ bản thành phố MATIDA

Tin tức trị bệnh theo cách này đến với tôi do tôi là nhà Quốc tế ngữ, có địa chỉ ghi trong danh bạ của giới Quốc tế ngữ. Viện trị liệu cũng dùng danh bạ này nên tin tức đầu tiên về cách chữa bệnh này của Viện đã đến với tôi. Vừa đọc song tập sách nhỏ về phép trị liệu này, tôi liền đi thăm ngay địa điểm điều trị tại Tokyo, lúc tôi đã 70 tuổi.

Lần đầu tôi đến với phép trị liệu chỉnh xương hông này cách đây khoảng 5 năm, lúc đó tôi rất bận rộn vì tôi là chủ tịch học viện mới được thành lập. Tôi đến thăm Viện vì tôi cảm thấy thân thể mệt mỏi không thể làm việc hoặc hoạt động năng nổ được. Sau lần chữa bệnh đầu tiên, ra khỏi Viện, tôi cảm thấy thân thể trở nên nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái, đi lại nhanh nhẹn hơn trước. Chỉ sau 50 phút chữa, người tôi đột nhiên như trẻ lại. Đó là chuyện thần kỳ và kinh nghiệm diệu kỳ của đông y mà Tây y không thể có được.

Do kết quả trên, tôi bắt đầu đến Viện để điều trị đều đặn khoảng 50 lần trong một năm. Trạng thái mệt mỏi giảm dần ngày này qua ngày khác và tôi lại có thể lao động gánh vác công việc như trước đây. Vì bận công việc hàng ngày nên tôi cũng ngừng không đến chữa ở Viện nữa. Nhiều người xung quanh nhận thấy tôi rất trẻ so với tuổi của mình, đó là do tôi được Viện điều trị. Sau đó, có lần, đột nhiên tôi bị chứng đau xương hông, tôi lại đến Viện để chữa và bệnh đã đỡ nhiều.

Cách chữa này hoàn toàn theo cách Đông phương, không dùng thuốc uống hoặc thuốc tiêm nên không có sự tác động phụ hay gặp ở Tây y.

Tôi phấn khởi giới thiệu với các bạn trên toàn thế giới quyển sách này vì sức khỏe tương lai của các bạn.

 

Ngày 10 tháng 12 năm 1988

LỜI NÓI ĐẦU

(Cho lần xuất bản thứ 3 bằng tiếng Việt)

Liệu pháp Yumeiho chưa có lịch sử lâu đời ở Việt Nam, tuy nhiên nó phát triện nhanh ở đất nước các bạn. Tôi nghĩ điều này phụ thuộc vào mấy việc:

  •  Người Việt Nam quan tâm đến liệu pháp không dùng thuốc và có thể không muốn dùng nhiều hóa chất để chữa bệnh.
  • Quốc tế ngữ Esperanto mạnh ở Việt Nam đến mức  Yumeiho có thể qua các nhà thuốc quốc tế phát triển nhanh ở đây.
  • Các thầy thuốc Yumeiho ở Việt Nam may mắn thuộc lớp người có tài năng, biết nắm chắc lấy thực chất của Yumeiho và nhờ đó chữa thành công rất nhiều bệnh tật, chiếm được lòng tin của nhân dân Việt Nam đối với liệu pháp này.

Có thể còn có những lý do khác, mà tôi chưa biết, đã giúp cho việc phát triển Yumeiho ở Việt Nam. Dù sao bản thân tôi cũng vui mừng trước thành công này và giờ đây tôi mới cảm thấy những đầu tư của tôi trên đất nước này là không lãng phí. Bản thân tôi đã ba lần đến Việt Nam để mở lớp và giới thiệu Yumeiho và còn hơn thế nữa, ông thư ký phụ trách các vấn đề quốc tế ở bệnh viện trung ương của tôi đặc biệt đã đến Việt nam ba lần. Vậy là chúng tôi rất cố gắng cho sự nghiệp Yumeiho ở Việt Nam và giờ đây chúng tôi đều hài lòng về thành quả đã đạt được.

Điều cần nói là cho đến nay tôi chưa hề chạy theo lợi nhuận liên quan đến Yumeiho ở Việt Nam, thậm chí còn bỏ ra nhiều công sức cho việc này. Đối với tôi thì Việt Nam sau thời gian dài sống cách biệt đã mở cửa tiếp xúc với thế giới bênh ngoài, đó là điều quan trọng và tôi muốn với sức mình cũng có được vai trò trong sự nghiệp này.

Cũng có thể qua các bài khác trong tập sách này, các bạn sẽ thông tin là Yumeiho đã phát triển đủ mạnh ở miền Nam và miền Bắc và nhiều người chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, đã sử dụng phương pháp này để chữa bệnh. Tôi hy vọng rằng chẳng bao lâu nữa sự phát triển này sẽ được phổ cập tại nhiều vùng khác của Việt Nam và nhân dân mọi nơi sẽ có thể sử dụng phương pháp này, cho đến nay đã giúp ích cho hàng triệu nhân dân thế giới.

 Cuối cùng tôi xin cảm ơn các nhà quốc tế ngữ Esperanto liên quan đã cố gắng nhiều lo cho việc xuất bản cũng như nhà xuất bản đã hiểu ro lợi ích của nhân dân Việt Nam và xuất bản tập sách.

Tôi còn muốn nhiều lần đến thăm đất nước Việt Nam xinh đẹp của các bạn để nhìn thấy những kết quả rực rỡ hơn về việc sử dụng Yumeiho.

 

Chân thành           

SAIONJIM. Nhật bản, Tokyo

ngày 1 tháng 8 năm 1996  

LỜI NÓI ĐẦU

(Cho xuất bản phẩm bằng Quốc tế ngữ)

Tập sách “Cách chữa bệnh bằng bóp nắn chỉnh xương hông” hiệu quả nhanh, đã được xuất bản bằng tiếng Nhật, Anh, Trung Quốc, được sử dụng rộng khắp ở Nhật, Trung Quốc và một số nước nói tiếng Anh, đã có vai trò quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh.

Con người sống bất cứ nơi nào trên trái đất đều phải chịu tác động của trọng lực. Khi có hiện tượng chuyển lệch xương hông thì sự mất cân bằng của thể trọng lên hai chân sẽ tác hại, đến cột sống, thậm chí đến toàn bộ xương. Hiện tượng chuyển lệch xương hông cũng sẽ gây đau đớn và căng thẳng cơ bắp và các mô có liên quan, cuối cùng làm trở ngại cho sự lưu thông máu. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng gây bệnh và làm giảm năng lực tự bảo tồn của cơ thể. Tất cả mọi người, không loại trừ ai, đều chịu khống chế của quy luật này.

Cách dùng bàn tay “bóp nắn chỉnh xương hông” để chữa bệnh, mà ai cũng có thể làm được, hoàn toàn có thể loại trừ được các rối loạn của xương và cơ bắp. Vì thế trong dịp phát hành tập sách này bằng Quốc tế ngữ, tôi chân thành mong muốn các nhà Quốc tế ngữ phổ biến tập sách này đến nhân dân toàn thế giới để mọi người biết mà sử dụng. Nếu họ đến Nhật Bản để học phép trị liệu này, họ sẽ được hoan nghênh. Tôi cũng sẽ cố gắng tạo điều kiện để tôi đi thăm và hướng dẫn phép trị liệu này ở nước ngoài.

 Cách chữa này, khi thao tác chưa quen, thậm trí còn vụng về, cũng không có hệ quả gì xấu. Nếu xảy ra sai lệch do không theo đúng hướng dẫn của sách, tôi và Hội phổ biến phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông sẽ không chịu trách nhiệm. Tôi mong được bạn đọc thông cảm và thứ lỗi. 

Tôi hết lòng cầu chúc bạn đọc của tập sách này sức khỏe và hạnh phúc. Nếu ai dịch tập sách này ra ngôn ngữ dân tộc của mình để phổ biến phép trị liệu này thì xin gửi cho Học viện Quốc tế về phòng bệnh bản sao hoặc bản dịch.

 

Tháng 10 năm 1988

MASAYUKI SAIONJI

LỜI NÓI ĐẦU

Cô K, 24 tuổi sống ở khu phố KATSUSHIKA ở Tokyo, phục vụ trong cử hàng ăn của cha cô ở gần ga AOTO trên tuyến đường sắt KEISEL, sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng. Vì đứng suốt ngày trong cử hàng ăn và có thể do nhiễm lạnh, nên khi 21 tuổi, cô ta bị mắc bệnh đau lưng.

Năm 23 tuổi, cô lấy chồng. Không may trong lễ cưới, cô bị trật đĩa đệm cột sống. Cô cố gắng chịu đựng cho đến cuối buổi lễ, nhưng tuần trăng mật thì thật là không vui, cô phải về nhà với bố mẹ đẻ. Bốn năm sau, chồng cô tuyến bố qua người mối, hủy bỏ lễ thành hôn vì lý do sức khỏe của cô.

Thất vọng, cô K đã đi chữa bệnh ở nhiều nơi sau ngày ly dị, nhưng không đạt được kết quả mong muốn.

Sau ba năm, cô có người yêu mới. Lần này, đúng lúc đến nơi hò hẹn thì bệnh đau lưng của cô lại tái phát. Nhớ đến nỗi đau khổ do bệnh tật gây ra trong lần thành hôn trước, cô lo lắng chuyện cũ sẽ lặp lại. Bố mẹ và thầy thuốc khuyên cô hoãn lễ cưới lại 5 tháng sau khi đi mổ, hy vọng sẽ lành bệnh. Nhưng cô không muốn lấy chồng với thân thể bị tổn thương do phẫu thuật. Trong lúc hoang mang thì cô nghe tin về phép trị liệu của tôi, cô đã đến ngay Viện với hy vọng được chữa khỏi. Tôi chuẩn đoán và nhận thấy xương hông của cô bị lệch đi hai phân. Hôm đó, tôi chỉnh ngay xương hông cho cô. Sau đó, tôi áp dụng cách chữa bệnh cho cô mỗi tuần lễ 3 lần. Ít lâu sau, cô lành bệnh. Tiếp đó, cô đến thăm Học viện chúng tôi mỗi tháng một lần.

Ba năm trôi qua sau ngày cô lấy chồng lần thứ 2. Hiện nay. cô đang hưởng cuộc sống hạnh phúc. Bệnh đau lưng, cái chứng bệnh đã dày vò cô 6 năm trước không còn tái phát nữa.

Hiện có nhiều bệnh nhân như cô. Trong số này, tôi đã chữa khỏi nhiều người. Vì vậy, ngày càng có nhiều bệnh nhân đến với tôi. Đó là lý do vì sao Học viện chúng tôi lại được gọi là “Nhà ga cuối cùng” của các chứng bệnh.

Mỗi người đều có hiện tượng lệch xương hông, bẩm sinh hoặc mới mắc, còn nhẹ hoặc đã nghiêm trọng, có hoặc không có triệu chứng.

Hiện tượng chuyển lệch xương hông là nguyên nhân chính gây ra bệnh đau lưng. Thậm chí có người, tuy chưa có triệu chứng, vẫn cảm thấy trong cuộc sống hàng ngày, dần dần có hiện tượng chuyện lệch xương hông mỗi lúc một thêm nặng kèm theo triệu chứng. Vì thế cần biết sớm và kịp thời chỉnh các khớp xương hông bị lệch để phòng và chữa bệnh.

Tập sách này phân chia phép trị liệu thành 7 phương pháp chữa bệnh theo triệu chứng của các bệnh mà bạn có thể vận dụng dễ dàng để chữa bệnh tại nhà.

Tôi hy vọng rằng các bạn sẽ chọn đúng phép trị liệu chữa phù hợp với triệu chứng bệnh của các bạn. Và tôi tin chắc rằng các bạn sẽ giải thoát cho mình khỏi mối bận tâm lâu dài về bệnh tật và chữa khỏi bệnh một cách thần kỳ không gặp thất bại nào.

 

Tháng 1 năm 1987

MASAYUKI SAIONJI


I. PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHỈNH XƯƠNG HÔNG

 Trong thực tế, khó có thể thấy trong một người, có một người có xương hông hoàn toàn bình thường. Hầu hết mọi người đều có xương hông ít nhiều bị lệch. Do lệch xương hông, cột sống bị uốn cong, chèn ép vào các dây thần kinh gây ra các rối loạn chức năng của cơ bắp, xương khớp, tạng phủ. Việc chuyển lệch xương hông là nguyên nhân chính gây ra bệnh đau xương hông và vai, và cả cơ quan nội tạng vốn làm phiền lòng nhiều người.

PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHỈNH XƯƠNG HÔNG là phương pháp chỉnh lại xương hông trong toàn cơ thể, làm thư giãn cơ bắp và các cơ có liên quan, đẩy lùi căn nguyên gây bệnh mà xương hông là trung tâm.

 Phương pháp này tập hợp được các ưu điểm của các phép xoa bóp khác nhau, nắn khớp và định vị xương bằng cách kéo giãn chỉnh và nắn thẳng, qua đó nâng cao hiệu quả chữa bệnh.

II. PHÉP TRỊ LIỆU THẦN KỲ

Nguyên nhân các chứng bệnh

Ở động vật hoang dã chúng ta không thấy chúng có những bệnh phức tạp như con người. Nhưng nếu chúng ta tách chúng ra khỏi môi trường tự nhiên quen thuộc để nuôi chúng trong lồng hoặc trong chuồng thì chúng lại bị những bệnh phức tạp như ở con người.

Nguyên nhân chủ yếu là do chúng bị thiếu vận động, lại bị kích thích bên ngoài rất mạnh và phải ăn những thứ ép buộc làm cho cơ thể chúng phải tạo ra các phản ứng bất bình thường.

 Trong xã hội văn minh hiện đại, với nền khoa học phát triển cao, đôi khi chúng ta cũng bắt buộc phải sống trong môi trường không thích hợp, sự vận động của chúng ta tương đối thiếu. Mỗi bộ phận cơ thể con người, nếu không được vận động theo quy luật tự nhiên sẽ teo đi, thoái hóa và chức năng của nó sẽ yếu đi, hệ quả là xuất hiện những chứng bệnh khác nhau với những triệu chứng báo hiệu là đau ở hông và yếu ở chân. Nếu chân phải bị yếu thì sức nặng cơ thể sẽ dồn lên chân trái. Nếu cả hai chân đều yếu, thì một trong hai chân sẽ phải gánh chịu sức nặng của toàn thân và cảm thấy chóng mỏi thì chân kia phải thay thế. Như vậy sẽ lặp đi lặp lại sự luân phiên nhau, chân càng yếu thì thời gian luân phiên càng nhanh.

 Vậy hiện tượng không bình thường của vị trí xương hông đưa lại hậu quả gì? Tôi giới thiệu chi tiết một chút về hiện tượng yếu chân phải.

Vì sao yếu chân phải? Đó là điều xảy ra khi xương hông bị sai lệch, cản trở sự lưu thông máu ở chân phải làm cơ bắp bị đau khó hoạt động. Trường hợp này gọi là “loại chuyển lệch xương hông phải”. Bệnh nhân thuộc loại này gầy đi và bị chứng đi lỏng do hoạt động của gan, dạ dày và ruột bị rối loạn. Phụ nữ bị bệnh lệch xương hông phải thường mắc bệnh phụ khoa.

 Hiện tượng yếu chân trái gọi là “loại chuyển lệch xương hông trái”. Bệnh nhân thuộc loại này béo phì lên, dễ bị cảm lạnh, thường mắc chứng táo bón và rối loạn chức năng tim phổi.

Yếu cả hai chân gọi là “loại phối hợp”. Bệnh nhân thuộc loại này lúc đầu cảm thấy yếu một chân, sức nặng của cơ thể dồn sang chân bên kia. Chân này bị yếu dần đi vì sức nặng của toàn thân. Hậu quả là sự chuyển lệch xương hông thêm nghiêm trọng hơn và cột sống bị lệch theo hình chữ S, bệnh mỗi lúc thêm phức tạp.

 Hiện tượng chuyển lệch xương hông sẽ được nói kỹ ở phần sau. Điều cần nắm vững là tất cả các chứng bệnh đều có nguồn gốc là hiện tượng mất bình thường của xương hông.

 Phương pháp chữa bệnh như thế nào là thích hợp?

Đương nhiên không có phương pháp nào khác hơn là chỉnh xương hông bị lệch và bình thường hóa sự cân bằng của xương và cơ bắp trong toàn cơ thể.

 Phép trị liệu bóp nắn, chỉnh xương hông mà tôi đã thực hiện hơn 20 năm qua là lý tượng nhất. Nội dung của phương pháp này là hồi phục lại sự cân bằng cơ thể bằng cách phát huy và hồi phục lại sự cân bằng của cơ thể bằng cách phát huy sinh lực của con người và như vậy phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân. Bản chất của nó là làm dịu cơn đau, loại trừ tận gốc mầm gây bệnh, vì vậy phép trị liệu được gọi là “Phép trị liệu nguyên nhân” hay là phép trị liệu cơ bản.

Tất cả 69 triệu chứng bệnh đã được chữa khỏi

 Trong số các bệnh nhân đến Viện của tôi có chàng tri 30 tuổi. Anh ta kêu lên là đã xuất hiện 69 triệu chứng bệnh ở anh ta. Tôi sẽ không liệt kê cả 69 triệu chứng và chỉ giới thiệu hiệu quả chữa bệnh về một vài triệu chứng. Chứng trướng khí anh ta mắc phải 15 năm đã khỏi sau 20 lần đến tôi chữa. Bệnh trĩ của anh ta giảm nhiều sau 6 lần chữa. Anh ta bị táo bón dã 7 năm, sau 7 lần chữa thấy đỡ nhiều và khỏi hẳn sau 40 lần chữa. Bệnh đau lưng 5 năm, thuyên giảm sau 8 lần chữa. Những chứng đau ở vai và cổ 15 năm đã thuyên giảm chút ít sau 12 lần chữa bệnh và bệnh thần kinh liên sườn đã 3 năm khỏi hoàn toàn sau 12 lần chữa. Những chứng đau ở vai, cột sống và bệnh viêm phế quản lành hẳn sau 30 lần chữa…

 Qua đây, chúng ta thấy là phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông đạt hiệu quả thần kỳ, tối đa sau 40 lần và có hiệu nghiệm về nhiều mặt. Mặc dù phép trị liệu này chỉ là chỉnh xương hông bị lệch, nhưng nó lại thêm nhiều sinh lực cho cơ thể của con người và kết quả đạt được là chữa khỏi nhiều chứng bệnh. Việc chữa bệnh ở nhà theo hướng dẫn của thầy thuốc chắc chắn sẽ giúp bệnh nhân chữa khỏi được nhiều chứng bệnh không phải dùng thuốc.

Bạn có tin những hiệu quả kỳ lạ này không?

 Những hiệu quả kỳ lạ này của phép trị liệu nắn chỉnh xương hông là làm cho các triệu chứng bệnh mất hẳn sau một vài lần chữa. Những hiệu quả này không liên quan trực tiếp đến tuổi tác cũng như tài cán của người chữa bệnh và bệnh trạng của người bệnh nhân mà chủ yếu phụ thuộc vào sức dẻo dai của cơ thể họ. Trong lúc chữa thì người có cơ thể dẻo dai có thể nghe được những tiếng kêu rõ ràng. Cơ bắp và những tổ chức có liên quan với chúng vốn dẻo dai, vì thế mà sự lưu thông máu tốt hơn và các hiện tượng bệnh mất ngay sau khi chỉnh lại xương hông. Nói chung, trong số 50 bệnh nhân thì có một người có thể thấy ngay được hiệu quả kỳ lạ đó. Dù sao thì hiệu quả cũng đặc biệt tốt đối với người trẻ tuổi vì cơ thể họ rất dẻo dai.

 Ta hãy xem các ví dụ sau:

T.U. một em bé 6 tuổi bị xoắn cột sống lành bệnh sau một lần chữa.

K.A. Thanh nữ 20 tuổi bị nấc, ợ và đau dây thần kinh ở mặt, lành bệnh sau một lần chữa.

U.T. Thanh nữ 20 tuổi bị bế kinh, lành bệnh sau một lần chữa.

S.E. Phụ nữ 30 tuổi bị váng đầu, lành bệnh sau một lần chữa.

R.Y. phụ nữ 32 tuổi bị kinh nguyệt không đều và rối loạn thần kinh thực vật, lành bệnh sau một lần chữa.

S.M. phụ nữ 42 tuổi tiếng nói khó khăn và khàn giọng, lành bệnh sau 3 lần chữa. Đồng thời chứng đau mình và đau cột sống, đau ngón tay cũng giảm nhiều.

S.J. đàn ông 43 tuổi bị đau lưng đã 5 năm, lành bệnh sau 4 lần chữa. Chứng đau đầu, đau ê ẩm vai và cổ tay mất hẳn, bệnh ngoài da và một số bệnh khác cũng giảm.

K.F. Đàn ông 40 tuổi bị đau ở xương hông và cột sống, viêm dạ dày và rối loạn thần kinh thực vật, khỏi bệnh sau 1 lần chữa.

T.O. đàn ông 53 tuổi bị hội chứng Mesniefre đỡ ít sau 1 lần chữa và bệnh không còn hành hạ anh ta sau 20 lần chữa liên tục.

K.K. phụ nữ 71 tuổi, tai trái không nghe được, sau một lần chữa lại nghe được.Các chứng ù tai, chóng mặt trước khi ngủ cũng hết. Phần lớn các bệnh nhân nói trên đều lành bệnh sau 1 lần chữa bằng phép trị liệu nắn bóp chỉnh xương hông. Bạn có thể nghi ngờ những điều tôi nói là thật không thể bài bác được. Nếu các bạn tiếp tục đọc tập sách này, bạn sẽ hiểu và chấp nhận điều đó bạn sẽ học được cách chữa bệnh như thế nào.

 Các phương pháp đơn giản chữa bệnh đau lưng

Bệnh đau lưng có nhiều nguyên nhân, ví dụ do lệch đĩa đệm cột sông, xẹp đốt sống, viêm tủy sống, tổn thương cơ lưng và các cơ quan nội tạng tổn thương khác mà tôi gọi là hệ triệu chứng đau lưng.

Tất cả những chứng đau lưng ở xương hông có thể cảm nhận được tùy thuộc vào sự chuyển lệch của cột sống, chủ yếu do vị trí xương hông và sự căng ra hay co lại của các cơ lưng và hông, đó là hiệu quả chính của hiện tượng chuyển lệch xương hông. Để khỏi đau lưng, cần phải chỉnh lại các đốt sống và xương hông, vì đó là trung tâm gây bệnh. Bệnh đau lưng sẽ mất đi sau khi các cơ lưng và hông được thư giãn. Bằng cách này, bệnh nhân bị sa đĩa đệm cột sống cấp tính có thể chữa khỏi trong 5 phút. Mới đây không lâu, tôi gặp một người đàn ông bị đau xoắn mình ở trên một chuyến tàu. Tôi đã chữa khỏi cho anh ta trước khi tàu tới ga tiếp đó, anh ta khen tôi rất nhiều.

Dưới đây là những phương pháp chữa bệnh đau lưng. Bệnh nhân sẽ khỏi đau, nếu họ chấp nhận phương pháp chữa trị ở các hình vẽ 1 sau đây:

1. Chỉnh cột sống

 Mục đích là chỉnh lại các đốt xương hông bị lệch. Người chữa ngồi trên gót chân, tỳ đầu gối vào giữa thân người bệnh, thọc tay qua nách và bám nhẹ vào vai người bệnh bằng bàn tay và kéo ra sau.

Hình  H1

Lúc đó hai đầu chạm vào nhau để thân người bị bệnh không di động (Xem hình H1.A).

Sau đó, người chữa dùng hai đầu gối của mình ấn thẳng góc vào cột sống của bệnh nhân ở các đốt sống lưng 4 -5 phía trên xương hông cho đến các đốt xương ngực dưới xương bả vai. Trong khi đó, người chữa luôn luôn ép trán mình vào gáy của bệnh nhân, còn bệnh nhân thì thư giãn hoàn toàn thân mình, hai tay buông thõng tự nhiên. Khi người chữa ấn mạnh mà nghe thấy tiếng kêu của các đốt lưng là có kết quả (Xem hình H.1.B).

Video tham khảo tại đây:

 

2. Bóp nắn tất cả các bắp xương cùng cột sống

 Mục đích chính là để thư giãn và làm mềm các cơ lưng. Người chữa quỳ gối, hai chân kẹp hai bênh mình bệnh nhân, rồi dùng các ngón tay cái bóp nắn thẳng đứng vào cơ xương cùng cột sống. Người chữa luôn luôn chuyển động thân mình sao cho vị trí nắn luôn luôn có chiều thẳng đứng. Phải nắn ở 10 điểm và làm lại hai lần (Xem hình H.2).

Hình H.2

3. Bóp nắn vùng trên mấu chuyển lớn trái

 Mục đích là để thư giãn và làm mềm các cơ xương hông trái. Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên ống chân trái của bệnh nhân, chống cánh tay trái trên sàn, dùng bàn tay phải bóp nắn 25 lần vùng phía trên mấu chuyển lớn trái. Phải nắn nhiều các cơ bị xơ cứng cho đến khi nó mềm ra (Xem hình H.3).

Hình H.3

4. Bóp nắn vùng trên mấu chuyển lớn mông phải (xem hình H.80)

5. Chỉnh khớp xương hông cùng bên phải

Bệnh nhân nằm nghiêng bên trái, chân trái duỗi thẳng, chân phải co lại chút ít. Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên ống chân phải của bệnh nhân, ấn hông phải của bệnh nhân bằng cùi tay trái, tay phải tỳ trên vai của bệnh nhân. Khi người chữa dùng sức ấn sẽ làm cho bệnh nhân vặn đi. Nếu thân của bệnh nhân chưa vặn thì người chữa dùng sức nặng của thân mình mà ấn. Phải làm đi làm lại nhiều lần. Khi thân bệnh nhân xoay mà khớp hông có tiếng kêu răng rắc là có hiệu quả (Xem hình H.4).

Hình H.4

 6. Chỉnh khớp xương hông cùng bên trái

 Bệnh nhân nằm nghiêng bên phải, chân phải duỗi thẳng, chân trái hơi co một chút. Người chữa quỳ gối, đặt hai chân sang hai bên ống chân trái của bệnh nhân, ấn hông trái của bệnh nhân bằng cùi tay phải, bàn tay phải tỳ vào vai trái của bệnh nhân. Người chữa dùng sức ấn cho thân người bệnh vặn đi. Nếu thân người bệnh không vặn đi thì người chữa phải dùng sức của thân mình để vặn, tới khi thân người bệnh vặn nghe có tiếng kêu răng rắc ở các khớp xương hông mới có kết quả (Xem hình H.5).

Hình H.5

 Nhiều bệnh nhân đau lưng có thể chữa khỏi sau 1 lần chữa. Nếu bệnh nhân vẫn còn thấy đau lưng, sau khi trị liệu lần thứ nhất thì tiếp tục điều trị như trên thêm nhiều lần cho tới khi hết đau.

Video tham khảo chỉnh khớp xương hông cùng bên trái và phải tại đây:

 

III. NGUYÊN NHÂN CÁC CHỨNG BỆNH LÀ CHUYỂN LỆCH XƯƠNG HÔNG

 Chỉ có 0,1% số người có được xương hông bình thường

 Phải chăng có được thân hình ổn định là điều quan trọng hơn cả đối với nhà thể thao hay người luyện chữ viết? Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nghe những câu nói như: Hãy chỉnh đốn lại thân hình!…Bạn đã mất thân hình cân đối rồi!…

Quan niệm của người Trung Quốc về thân hình gồm có 2 phần, phần thứ nhất là thể xác, phần kia là tinh thần. Như vậy có thể thấy rằng các nhà tư tưởng cổ đại đã có ý thức được phần hồn của thân hình.

Thân hình là phần quan trọng của cơ thể con người. Nhưng xương làm cơ sở cho thân hình là xương hông. Chúng gồm có những cặp xương hông lớn phải và trái, xương cùng và xương cụt.

Điều đáng ngạc nhiên là chỉ có một hoặc chưa đến một phần nghìn người có được xương hông hình dáng bình thường. Ở nhiều người, xương hông chuyển lệch từ 1 đến 2 cm. Vì đây là sự chuyển lệch ở phần cơ sở quan trọng của thân thể con người nên chắc chắn nó mang lại ảnh hưởng xấu cho toàn cơ thể. Có những người dáng vẻ rất mạnh khỏe mà xương hông ở vị trí không bình thường. Thậm chí nếu họ chưa cảm thấy khó chịu thì qua thời gian hiện tượng không bình thường đó hiện rõ dần dần và sẽ gây ra bệnh.

Khi nào bắt đầu chuyển lệch xương hông?

Hiện tượng chuyển lệch xương hông ở 99% các bệnh nhân là bẩm sinh vì khi họ chào đời, qua cửa mình mẹ là đã có sự chuyển lệch đó rồi. Cửa mình của người mẹ có hình chữ nằm ngang và cơ bắp của “đường kênh” này tương đối rắn, tức là ít đàn hồi. Lúc ra đời, thai nhi xương thị còn rất mềm mại nên bị vặn người khi đi qua “đường kênh” uốn cong và rắn này. Chính lúc đó xảy ra chuyển lệch xương hông của thai nhi.

Ngoài tính chất bẩm sinh cũng còn có lý do khác làm chuyển lệch xương hông. Điều này xảy ra khi người ta bị ngã hoặc bị va chạm. Tuy nhiên, khả năng bị lệch xương hông bằng những cách này ít có hơn là trường hợp bẩm sinh.

Các cuộc điều tra cho thấy rằng gần 58% các cô gái ở một trường cao đẳng mắc phải chứng kinh nguyệt không đều do chịu ảnh hưởng của mẹ khi họ mới sinh. Vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng khi những cô gái bị bệnh này lấy chồng và sinh con. Lòng ta sẽ trĩu nặng khi nghĩ đến tương lai của họ. Điều quan trọng đối với chị em phụ nữ, trước khi lấy trồng hoặc sinh con, là phải biết trắc rằng xương hông của mình có bình thường hay không. Đó là bổn phận của người  “làm mẹ” khi hiểu rõ toàn bộ cuộc sống của đứa con phụ thuộc vào xương hông của người mẹ.

Sự chuyển lệch xương hông gây bệnh như thế nào?

Nhà có nền, cột và mái và dĩ nhiên nền móng phải vững chắc. Nếu nền móng kém, nhà trước sau cũng sẽ bị đổ, dù cột của nó có vững trắc bao nhiêu, mái của nó có sinh đẹp đến mấy đi nữa.

Thân thể con người chính là cái nhà, xương hông là nền móng và cột sống là cột. Nếu xương hông bị chuyển lệch, cột sống bị uốn cong.

Cột sống gồm 26 đốt là bộ phận dễ chuyển lệch nhất của thân thể con người. Các đốt sống nếu bị chuyển lệch, chúng bắt đầu ép vào tủy sống và sau đó vào gốc của các thần kinh cột sống. Kết quả là đau nhức ở những phần bị ép hoặc rối loạn ở những cơ quan do những thần kinh này chi phối. Ngoài ra, sự chuyển lệch đốt sống kéo theo gân và cơ bắp, và làm tắc nghẽn sự lưu thông máu và bạch cầu, dẫn đến xuất hiện nhiều chứng bệnh. Có thể bạn nghĩ rằng những chứng bệnh về tuần hoàn có thể chữa bằng cách chuyển lại các đốt sống bị chuyển lệch. Nhưng theo tôi thì “không”, vì gốc bệnh là ở xương hông. Nếu xương hông là “nền móng” không được chỉnh lại thì mọi cố gắng để dựng đứng lại cột sông và sắp xếp lại mái nhà sẽ vô nghĩa.

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là an toàn nhất.

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông vừa là phương pháp chữa bệnh tự nhiên vừa là phương pháp phòng bệnh. Theo phương pháp này, người ta nắn bộ phận cơ thể có liên quan để nâng cao sức đề kháng tự nhiên của cơ thể con người nhằm đạt được mục đích phòng bệnh và chữa bệnh. Bằng phương pháp này người ta không cần uống thuốc, tiêm phòng và phẫu thuật, ngoài ra nó không gây ra tác động phụ. Bằng hai bàn tay không, người ta có thể chữa và phòng nhiều chứng bệnh. Khi trị liệu, người chữa dùng tay để phát hiện trạng thái mềm hay cứng của cơ bắp bệnh nhân và dùng tai để nghe tiếng “răng rắc” khi chỉnh. Tất cả các biện pháp này nhằm làm giảm đau cho bệnh nhân và đạt hiệu quả chữa bệnh tốt hơn.

Những giới hạn chữa bệnh của khoa học hiện đại

 Người ta chưa biết rõ nguyên nhân làm rối loạn thần kinh thực vật và chưa có phương pháp hiệu nghiệm để chữa loại bệnh này. Người bệnh thường dùng thuốc an thần để chữa bệnh. Tuy nhiên, dùng lâu dai loại dược phẩm này dễ đưa đến suy nhược thần kinh hoặc nghiêm trọng hơn làm mất khả năng sống và lao động bình thường. Và phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là biện pháp duy nhất có thể chữa đau đớn cho những bệnh nhân đang điều trị lâu dài và vô hiệu quả ở bệnh viện.

Còn quá sớm để khẳng định đó là hiện tượng tuổi già

Không gì giúp bạn chống lại được mối lo của hiện tượng tuổi già. Có vị cao niên khoảng 70 tuổi đã bực vị lời khẳng định sống sượng đó nói với mình.

Sự thật là xương, cơ bắp và những cơ quan khác có thoái hóa ở những người già. Nhưng theo tôi, còn quá sớm để đơn giản quy cho tuổi già những cơn đau, chứng rút gân và tất cả những triệu chứng bệnh khác, vì nhiều bệnh nhân cao tuổi qua chữa bệnh bằng phép trị liệu bóp nắn xương hông đều được chữa khỏi các triệu chứng này, hầu như không loại trừ ai.

Thậm chí, những bệnh nhân mãn tính của người tuổi già như đau đầu gối và đau thần kinh tọa cũng có thể chữa khỏi được. Nói chung, những người già có thể chữa lành bệnh được nhờ có cơ thể dẻo dai dù tuổi họ đã cao. Không nên nghĩ rằng không thể chữa khỏi các bệnh kể trên đối với người cao tuổi. Cần lấy lại “dũng khí” khi thấy rằng mối lo lắng sẽ không còn khi có được những biện pháp chữa thích hợp.

 Phép trị liệu này có thể cải thiện sự cấu thành cơ thể bạn

Cái gì quyết định sự cấu thành của cơ thể?

Theo tôi, sự cấu thành của cơ thể được tạo ra từ những lúc mới sinh và được quyết định do vị trí xương hông. Tuy mơi trường cũng ảnh hưởng nhiều đến sự cấu thành cơ thể nhưng tôi vẫn kiên trì theo đuổi quan điểm là sự chuyển lệch xương hông có ảnh hưởng trực tiếp đến sự cấu thành của cơ thể, như người bị bệnh phát phì, bệnh gầy mòn, sốt rét, bệnh sa nội tạng, bệnh huyết áp cao và bệnh huyết áp thấp, bệnh đa cảm, bệnh đái đường, bệnh suy nhược và bệnh ung thư.

Phải thừa nhận rằng có nhiều khác biệt giữa những con người với nhau nhưng bệnh nhân có thể cải thiện sự cấu thành cơ thể mình là tùy thuộc vào khả năng tự đề kháng bẩm sinh của bản thân họ. Vì thế phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là phương pháp tốt nhất để khai thác triệt để khả năng tự đề kháng của cơ thể bệnh nhân.

 IV. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NĂN CHỈNH XƯƠNG HÔNG

Khả năng tự đề kháng là chìa khóa để triệt tận gốc căn bệnh

Chính xác ra thì phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là sự phối hợp giữa các phương pháp chỉnh và nắn.

Do coi xương hông là nền cốt, các khớp hông và các đốt sống là trung tâm, làm mềm cơ bắp và các cơ liên quan là mục đích chính, phép trị liệu có thể tùy theo đó  làm bình thường hóa những xương bị chuyển lệch, làm mất cân bằng và co cứng của cơ bắp, các tổ chức liên quan và mở rộng phạm vi hoạt động của các khớp.

Sự chuyển lệch xương hông có thể gây ra sự chuyển lệch các khớp hai bên hông, uốn cong cột sống, cản trở sự lưu thông múa và vì thế gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau. Như vậy, cần thiết phải chỉnh lại những xương bị lệch.

Như trên đây tôi đã nêu phép trị liệu này không nhằm chữa bệnh theo hiện tượng của nó mà là tìm ra những nguyên nhân hay là “phép trị liệu cơ bản”.

Các chứng bệnh xuất hiện là do mất cân bằng trong cơ thể. Con người vốn có trong cơ thể mình năng lực tự điều chỉnh trạng thái mất cân bằng, tức năng lực tự đề kháng hay còn gọi là sinh lực. Nêu con người mất đi năng lực tự đề kháng đó, họ không thể chống lại bệnh và xuất hiện triệu chứng là đau bệnh. Vì vậy, vấn đề quan trọng là phục hồi lại năng lực tự đề kháng đã mất. Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là phương pháp tốt nhất để phát huy năng lực tự đề khang của cơ thể, do đó được gọi là “phép trị liệu nguyên nhâ” hoặc là “phép trị liệu cơ bản”.

Vì sao việc chuẩn đoán và quan sát y học lại không cần thiết đối với phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông?

Ông TARO TAREMI, Chủ tịch Hội Y học Nhật Bản, chết vì bệnh ung thư, bệnh mà người ta chưa chữa được bằng y học hiện đại.

Ông thừa nhận những tồn tại và thiếu sót của Y học hiện đại và viết: Phép phân chứng được xem là tinh hoa của y học hiện đại theo tôi nghĩ, có thể gây ra hàng đống vấn đề, nếu nó không được xem xét đồng thời với toàn bộ hoàn cảnh. Lời nói này vạch ra thiếu sót lớn nhất của y học hiện đại.

Cơ thể con người gồm có thể xác và tinh thần. Thể xác gồm có tay chân, óc tim, huyết quản, máu, những cơ quan và tổ chức khác nhau…Chúng quan hệ với nhau và hỗ trợ lẫn nhau để duy trì hoạt động của cuộc sống. Khi một bộ phận nào đó của cơ thể hoạt động kém thì những dấu hiệu khác biệt đáng chú ý xuất hiện lên đó và những bộ phận khác của cơ thể. Đó là cơ sở của phép phân chứng trong y học hiện đại.

Trong phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông không hề đặt ra những đòi hỏi của y học hiện đại là chững bệnh thuộc ngành nào, không cần đến những quan sát y học và những kết luận của nó mà người ta chỉ chỉnh lại xương hông bị chuyển lệch và những xương khác vốn là nguyên nhân thật sự của những chứng bệnh và thư giãn các khớp và cơ bắp để nâng cao năng lực tự đề kháng và chữa khỏi căn bệnh. Đương nhiên, hiệu quả chữa bệnh sẽ tốt hơn, nếu phép trị liệu này được hỗ trợ bới kết luận của các quan sát y học hiện đại khác nhau.

 Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là lý tưởng nhất trong các phép trị liệu tự nhiên

Những phép trị liệu không phụ thuộc vào công cụ được gọi là phép trị liệu tự nhiên.

Tất cả những phép trị liệu tự nhiên thông thường đều có phương pháp riêng của nó. Trong số này thì phép trị nhổ bão lưng (kiroprakiko) phép chữa bệnh toàn bộ, nhấn mạnh đến việc chỉnh xương, những phép khác như xoa bóp bằng ngón tay hoặc bàn tay nhấn mạnh ảnh hưởng đến cơ bắp.

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông rất giống các phép trị liệu nói trên trong chỉnh xương nhưng khác biệt hoàn toàn với các phép đó. Thí dụ như người “thực hành nhổ bão” chủ yêu sử lý cột sống bị vặn vẹo, không chú ý đến hiện tượng chuyển lệch xương hông. Nêu cột sống được chỉnh bằng xoa bóp thì sau một thời gian, nó sẽ trẹo lại như trước, giống như ngôi nhà được xây trên nền móng kém có thể đổ, mặc dù cột của nó được dựng lại.

Gần đây, do nhận thức được điều này, những người nhấn mạnh đến cách chữa bệnh toàn bộ dần dần quay lại chú ý đến những xương hông bị chuyển lệch. Thậm chí một số đã áp dụng các xoa bóp. Tuy nhiên, quan điểm của họ còn một số chiều và cho rằng chỉ cần chỉnh xương hông. Họ không nghĩ rằng khi xương hông bị chuyển lệch đã được chỉnh lại nhưng chưa làm mất đi sự xơ cứng của cơ bắp và những cơ có liên quan thì sự chuyển lệch của xương hông lại tái diễn. Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông không chỉ là xoa bóp đơn thuần. Phép này xử lý không chỉ xương bị lệch mà cả cơ bắp nữa. Kỹ thuật của nó là xoa và bóp. Trên cơ sở này, phép trị liệu đề ra cách bấm thẳng đứng vào điểm nào đó, nếu là đặc điểm chính yếu nhất. Xoa và nắn đi đôi với bấm, giống như thuật xoa bóp bằng ngón tay, vì thế tôi gọi phương pháp phối hợp là “phép trị liệu bóp nắn”.

Phương pháp bóp nắn này có hiệu quả tốt hơn là phương pháp xoa bằng ngón tay. Nó có thể hoàn toàn làm thư giãn và các tổ chức có liên quan, phục hồi lại sự dẻo dai của cơ bắp để dẽ dàng chỉnh lại những xương bị lệch và đưa đến chữa bệnh thành công. Ngoài ra, nó cũng đẩy mạnh sự lưu thông của máu và chao đổi chất tại chỗ. Sự bổ sung qua đó là kỹ thuật diệu kỳ của phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông.

Khi nói đến phép trị liệu này, tôi nhớ đến thầy dạy tôi là ông SCHUIICHI OHNO.

Ông đến Trung Quốc vào năm 16 tuổi, bị thu hút vào thuật chữa trị SHAOLIN. Ông học phép trị liệu phục hồi, một bộ phận của thuật chữa trị, thời gian này ở Trung Quốc kéo dài đến cuối thế chiến thứ hai, vào năm 1945. Khi về nước, ông nghiên cứu những phép chữa trị dân gian khác nhau, dựng nền móng cho phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông bằng cách phối hợp cơ sở của phép phục hồi và những thành tựu của phép trị liệu mà ông học được.

Tôi biết ông OHNO qua những công trình của ông và khâm phục nghệ thuật cao cường và hiệu quả diệu kỳ trong cách chữa bệnh của ông. Vì thế tôi đã hiến dâng tuổi trẻ của tôi cho việc nghiên cứu phép trị liệu. Sau đó tôi đã sắp xếp lại toàn bộ hệ thống hóa các phương pháp vận dụng hơn 20 năm và được sự đồng ý của ông, tôi đã gọi chúng là phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông trên cơ sở phép trị liệu của Trung Quốc gọi là “ZHENG TI FA” (chữa bệnh toàn bộ).

 Không có phương pháp điều trị nào hợp lý hơn phương pháp bóp nắn chỉnh xương hông

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông có thể coi là một loại phương pháp tập luyện. Khác biệt với cách tập luyện thân thể khỏe mạnh thông thường, phép này là cách tập luyện mà người ta không thể tự làm được nhưng có thể tiếp nhận được sự cử động của người khác trên bản thân mình. Trong khi chữa, bệnh nhân thư giãn hoàn toàn thân trên sàn nhà. Phép trị liệu này ngang với sự tập luyện nên cũng tiêu hao năng lượng, tương đương với năng lượng cần thiết để chạy 1.500m, dẫn đến thở nhiều và tim đập nhanh mạnh như sau khi chạy 1500m. Các bệnh nhân khi được trị liệu như vậy đều cảm thấy dễ chịu đến mức tim họ đập ổn định, cơ bắp họ thư giãn và máu họ lưu thông tốt và có người lại thiu thiu ngủ trong khi trị liệu. Như vậy, phép trị liệu tạo gánh nặng cho tim “bạn”, không làm căng thẳng cơ bắp, mà còn chỉnh được những xương bị lệch.

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông hiệu nghiệm như thế nào đối với người bị ung thư giai đoạn cuối

Trước đây, tôi đã thấy nhiều bệnh nhân chịu đựng bệnh ung thư giai đoạn cuối. Những đau đớn của họ không thể diễn tả hết được. Trong số này có một người đàn ông 55 tuổi bị dày vò vì bệnh ung thư dạ dày giai đoạn cuối, đến chữa ở Viện tôi. Tôi không thể cứu chữa ông ta bằng kỹ thuật của mình, tuy nhiên phép trị liệu của tôi gần như đẩy lùi được sự đau đớn của ông và sau đó tôi được biết ông chết một cách êm thấm tuy chữa bệnh không thành công. Một người đàn ông khác 57 tuổi bị ung thư gan quay sang Viện tôi với cơ thể rất yếu ớt. Sau nhiều lần chữa, ông đã nhanh nhẹn lên và có thể dạo chơi bằng ghế đẩy. Tuy nhiên tình hình sức khỏe của ông không ổn định. Tôi thôi không chữa, sau 20 lần trị liệu theo yêu cầu của gia đình ông vì thấy chứng đau của ông thuyên giảm. Một tháng sau đó, bệnh nhân này cũng chế một cách êm ả. Điều này cho thấy người bệnh bị ung thư giai đoạn cuối được trị liệu 20 lần chết ít đau đớn hơn người không được trị liệu.

Sự đau đớn hủy hoại khí lực và vì vậy dẫn đến cái chết sớm. Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông có thể kéo dài cuộc sống và ít nhiều làm yên tâm những người trong gia đình họ cho nên phép trị liệu này cũng có ý nghĩa.

Những hiệu quả khác của phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông không chỉ chữa bệnh mà còn có tác dụng tốt trong việc phòng bệnh và làm cho cơ thể được khỏe khoắn.

Đó là:

1. Tạo cho bạn cảm giác ấm áp, mát mẻ và phấn chấn hẳn lên. Thực tế bạn không cảm thấy bị ép nặng trên tim, không cảm thấy sợ sệt như ở bệnh viện.

2. Đẩy lùi sự mệt mỏi, làm phấn chấn cơ thể. Khi sự lưu thôn máu được điều hòa thì sự chao đổi chất trong cơ thể được cải thiện và những yếu tố gây mệt mỏi được loại trừ.

3. Ngăn ngừa những bệnh quan trọng do nâng cao năng lực “tự chữa” của cơ thể, tăng sức đề kháng chống bệnh và tăng cường hoạt động của nội tạng. Như vậy bạn chắc chắn không mắc phải những chứng bệnh nghiêm trọng.

4. Gây miễn dịch chống lại cảm cúm. Khi cơ thể không có sức đề kháng chống lại siêu vi trùng thì dùng bất cứ thứ thuốc gì sẽ không có hiệu quả.

5. Tăng chiều cao cơ thể. Nhờ chỉnh lại xương hông mà các cơ xương và cột sông mềm mại làm cho các khoảng cách giữa các đốt sống rộng ra và cột sống thẳng lại dẫn đến chiều cao thân thể tăng lên, chủ yếu đối với trẻ em.

6. Làm đẹp bộ mặt vì có tác dụng xóa đi những nếp nhăn trên da, chữa mụn cóc và nấm da. Nó có tác dụng nhất định chống lại chứng bạc tóc, rụng tóc và lông mày, bệnh nấm và chai cứng ở bàn chân. Nó cũng có thác dụng giữ gìn tròn trịa cặp vú của phụ nữ.

7. Làm dẻo dai cơ thể, làm cho cử động được nhanh nhẹn. Ai cũng biết muốn khỏe mạnh cần phải luyện tập thân thể, do đó, phép trị liệu này là môn thể thao tốt cho cơ thể cân bằng. Phép trị liệu này phục vụ toàn bộ cơ thể và thích hợp cho tất cả mọi người trong khi thể thao còn có những chỗ không thích hợp cho từng người.

8. Làm cho bạn tươi tỉnh và hoạt bát ” Tâm hồn khỏe mạnh trong thân thể khỏe mạnh”. Nếu tâm hồn bệnh hoạn thì thân thể cũng bệnh hoạn. Nếu bạn muốn có thân thể và tâm hồn khỏe mạnh và hoạt bát thì hãy chấp nhận cách chữa bệnh của tôi.

9. Cải thiện chức năng sinh dục và có hiệu quả nhất định đối với chứng suy nhược chức năng sinh dục.

 V. LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT ĐƯỢC HIỆN TƯỢNG CHUYỂN LỆCH XƯƠNG HÔNG

Hiện tượng chuyển lệch xương hông là ở trạng thái nào?

Đường thẳng vai và đường thẳng xương hông của con người có xương hông bình thường là ngang bằng, bất kỳ họ đứng hay ngồi (xem Hình 6A) khi cột sống bị vênh so với đường xương hông ở góc thẳng đứng thì chân bên này dài hơn một chút so với chân bên kia. Sau đây sẽ giải thích về trạng thái chuyển lệch xương hông bên phải.

Giai đoạn đầu của hiện tượng chuyển lệch xương hông.

Khi người ta nằm sấp thì phía phải của đường xương hông cao hơn phía trái so với đường thẳng vai (xem Hình 6B) xương hông bị lệch oằn ra phía sau, hông phải cao hơn hông trái. Khớp xương hông phải quay vào phía trong vì xương hông phải bị lệch và chân phải không dài bằng chân trái. Khi đứng hoặc đi, con người có xương hông bình thường đặt trọng lượng thân thể đều lên cả hai chân phải và chân trái. Người bị lệch xương hông phải thì nghiêng mình qua bên phải, với chân phải ngắn hơn chân trái. Để đỡ lấy thân hình bị nghiêng, chân trái phải chịu đựng gấp rưỡi trọng lượng so với chân phải. Để giữ lấy cân bằng thân thể, các đốt sống ở ngực và lưng uốn cong sang phải và các đốt sống ở gáy uốn cong sang trái, đầu nghiêng sang phải. Đường thẳng xương hông trở nên cao phía bên trái và thấp phía bên phải và đường thẳng vai giống như khi nằm (xem Hình 6C). Vì xương hông phải bị lệch nhô ra phía trước nên xương hông trái có dạng cao hơn xương hông phải. Vai phải chịu ảnh hưởng của hiện tượng cột sống uốn cong sang phải nên vai cử động ra phía trước và thân hình vặn qua trái.

Giai đoạn thứ hai của hiện tượng chuyển lệch xương hông

 Nếu hiện tượng chuyển lệch xương hông phải không được chỉnh lại qua một thời gian dài thì chân trái dần dần mệt mỏi dưới sức nặng của cơ thể. Trong lúc đó, chân phải có thể chịu đựng được sức nặng. Khi trọng lượng chuyển sang chân phải thì khớp xương hông phải bị uốn cong vào trong, dần dần quay ra phía ngoài và chân phải dần dần dài ra. Vì trọng lượng chuyển sang chân phải nên phần trên của cột sống phải uốn cong qua phía trái. Nếu phần cột sống uốn cong qua phải không được chỉnh thẳng lại như trước, nó có thể chỉ sử dụng phần trên cột sống cong qua trái để giữ sự cân bằng cơ thể. Vì vậy, toàn thân trong trường hợp này trở thành chữ S.

Lúc đó, để giữ cân bằng cho phần trên cột sống bị cong, đường thẳng vai phải nâng lên ở phía trái và hạ thấp ở phía phải. Cả hai vai chuyển lên phía trước và quay sang phải. Dạng người như vậy được gọi là “thân hình rắn” (xem Hình 6D).

Giai đoạn thứ ba của hiện tượng chuyển lệch xương hông

 Nếu tình hình xấu đi, chân phải vốn ngắn hơn chân trái, nay lại dài ra chút ít gần bằng chân trái, dù xương hông bị chuyển lệch khi nằm sấp. Trong trường hợp nghiêm trọng nhất thì chân phải dài hơn chân trái để giúp nó chịu đựng gánh nặng quá lớn. Thậm chí trong trường hợp nhẹ nhàng hơn thì việc chuyển lệch xương hông trái bắt buộc phải có, dù hai chân đều dài như nhau. Nhưng đặc điểm phối hợp của việc chuyển lệch xương hông phải và trái được gọi là “Loại phối hợp”.

 Hình 6

Hiện tượng chuyển lệch xương hông trở thành nghiêm trọng bởi vì trọng lượng cơ thể lần lượt chuyển từ chân phải sang chân trái và từ chân trái qua chân phải làm cho cột sống có hình chữ chi phức tạp. Ngoài ra, trong giai đoạn này các khớp hông phải và trái cũng chuyển lệch không ngừng.

Hiện tượng chuyển lệch cột sống chẳng những phái triển đến các khớp vai, cùi tay, cổ tay, ngón tay mà còn đến cả xương sườn. Cũng như vậy, hiện tượng chuyển lệch khớp hông phát triển đến khớp đầu gối, mắt cá và ngón chân. Vì vậy, thật đáng kinh khủng là hiện tượng vặn xoắn xuất hiện lúc đầu ở xương hông sớm hay muốn cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến các khớp khác trong toàn cơ thể.

Hiện tượng chuyển lệch xương hông gây ra những bệnh gì?

Sự chuyển lệch xương hông gây ra rất nhiều chứng bệnh khác nhau. Dưới đây là tóm tắt sự phân tích các cứ liệu riêng mà tôi có được trong quá trình nghiên cứu lâu dài..

1. Loại lệch xương hông phải ( Loại căng khớp hông phải) lại căng thân kinh hệ đối giao cảm, suy chức năng gan và dạ dày, gầy mòn, đi lỏng, những bệnh phụ khoa…

2. Loại lệch xương hông trái (loại căng khớp hông trái) loại căng thần kinh giao cảm, suy tim và phổi, phát phì, táo bón, cảm cúm,…

3. Loại phối hợp (loại lệch xương hông phải phối hợp với loại căng khớp hông trái, hay là loại căng khớp hông phải và trái, hay là loại lệch xương hông trái phối hợp với loại căng khớp hông phải hay loại căng khớp hông phải và trái) khảnh ăn, thường thay đổi trọng lượng cơ thể, xen kẽ giữa táo bón và đi lỏng, những triệu chứng chung của loại 1 và loại 2.

 Những chứng bệnh đã được chữa khỏi bằng phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông

Những chứng bệnh mà tôi đã chữa khỏi bằng phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông gồm có:

Những bệnh về hô hấp

Khó thở, tức ngực, cảm cúm, viêm cổ họng, chứng sợ đám đông người, viêm phế quản, ngạt mũi, ngáp vặt, suyễn, thở dài, đổ máu cam, thường ho và đờm.

Những bệnh tim mạch

Hồi hộp, chứng tăng lipit – huyết, nhồi máu cơ tim, hỏng van tim, chóng mặt khi đứng, giãn nở tim mạch, chứng xanh tím, chứng cường tuyến giáp, chứng thiểu năng tuyến giáp, di chứng chảy máu não, khàn giọng, mất tiếng, tim đập không đều, tức giận, bệnh van tim, tắc mạch máu não, tăng huyết áp, hạ huyết áp, chứng tim đập mạnh, phù thũng ở mắt, bàn tay, lông mày, mí mắt, bàn chân, cẳng chân.

Những bệnh đường tiêu hóa

Cảm giác chướng bụng, cảm giác co thắt họng, ăn kém, khó nuốt, ăn kém ngon, không béo được, mửa, nóng dạ dày (chứng ợ nóng), sa dạ dày, sỏi mật, buồn nôn, sôi bụng, nấc, viêm ruột thừa mãn tính, viêm túi mật, viêm đại tràng, bệnh phát phì, táo bón, phân quá mềm, ỉa chảy, phân có máu, sưng lá lách, đau dạ dày, đau gan, ung thư đại tràng, thèm chất ngọt.

Những bệnh đường tiết niệu, sinh dục

Kinh nguyệt không đều, rong kinh, sỏi thận, kém chức năng sinh dục, bệnh đái dầm, mãn kinh không đúng, chứng đau bụng kinh, đái nhiều, đái ít, bệnh trĩ, thận di động, phì đại tuyến tiền liệt, viêm màng trong tử cung, viêm âm đạo.

Những bệnh về giác quan và vận động

 Bệnh liệt rung, choáng váng, mất khả năng đi, chạy, ngồi, đứng, ngủ chỉ nằm sấp mặt, giảm thị lực, nhìn không rõ, co hẹp thị trường, chứng kinh phong (co giật), đau khớp đầu gối, đau xương hông, đau thần kinh hông, đau thần kinh sinh ba, đau thần kinh chẩm, đau thần kinh liên sườn, đau ê ẩm vai, cảm giác cứng cổ, lão hóa vai, đau bàn chân, đau ngón chân, đau gân, đau lưng mãn tính, đau ở khủyu tay, đau ở vai, đau do đụng giập, sái cổ, ù tai, chứng liệt nửa người, mất cảm giác ở bàn tay, ngón tay, khuỷu tay, phần dưới các chi, đầu và môi, lỏng khớp gối.

Những bệnh thần kinh thực vật

Bệnh nấc, chứng miên hành (ngủ đi rong) ít ra mồ hôi, cảm giác khát, chóng mặt, ngáy, đánh rắm đau nửa đầu, ra nhiều mồ hôi, không ra mồ hôi, đau đầu, nặng đầu, đổ mồ hôi trộm.

Những bệnh ngoài da và niêm mạc

Cảm giác không thật về vị giác, khứu giác, đau, nóng và ho, da thô, rụng tóc (hói), mủ thũng chân răng, sưng móng tay, chứng nấm da chân, chai chân, bạc tóc, mẩn ngứa, sinh sắc tố, bệnh chàm, dị ứng thuốc, viêm da, nhăn da mặt và rụng tóc.

Những bệnh trẻ con

Chớ (ợ sữa), la khóc ban đêm, cảm cúm, biếng ăn, chậm lớn, táo bón, ỉa chảy, dễ sốt, chàm, ho, dễ sai khớp, phát phì, đau đầu, mồ hôi trộm, hen, kém ăn, đau bụng, dễ ngã, ngạt mũi, kinh phong (co giật).

Những bệnh khác

Mệt mỏi toàn thân, thường hay mệt, người bứt rứt, thiếu khả năng lao động, nóng nảy, mệt mỏi trước buổi trưa, kém ngủ, đãng trí, chán đời, thiếu linh lợi, thiếu ý chí, hay quên, yếu đuối, bi quan, có cảm giác sợ hãi, buồn ngủ, bồn chồn, mất ngủ, sốt, sốt vặt, thiếu máu, xanh xao, hôi nách, cong cột sống và sợ rét.

Làm thế nào để kiểm tra xương hông của bạn?

Ta đã biết ít người có được xương hông bình thường và hiện tượng chuyển lệch xương hông là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh. Vì vậy, cần phải biết xương hông có bị chuyển lệch hay không và nếu có thì thuộc loại nào để kịp thời điều trị.

Bạn có thể dễ dàng phát hiện sự chuyển lệch xương hông của bạn, xếp được nó thuộc loại nào để tự điều trị ở nhà bằng các phương pháp thích hợp.

1. Kiểm tra sự chuyển lệch xương hông bằng mắt

Sự chuyển lệch xương hông phải và trái cho thấy những dấu hiệu trên mặt, ở những bộ phận khác của cơ thể và trong cử động.

a. Dấu hiệu trên mặt

Ở những người bình thường, thân người đối xứng với mặt phẳng đứng dọc giữa thân người. Mặt con người cũng thế. Sự chuyển lệch xương hông làm mặt mất sự cân đối đó. Sau đây là những ví dụ:

Một mắt mở ti hí, một mắt có hai mí cò mắt kia có một mí, một mắt mí dưới phồng lên trong lúc mí mắt kia thì phẳng. Một hàng lông mày chếch xuống, những nếp nhăn nằm ngang trên trái kéo dài, thấp xuống một bên, nếp nhăn thẳng đứng giữa đôi lông mày chỉ xuất hiện ở một bên, mũi bị lệch lỗ nhỏ lỗ to, sống mũi không thẳng, nếp nhăn giữa cánh, vành mũi và mép miệng mất đi ở một bên, những mép miệng không ngang hàng nhau, cằm bị lệch, tai nọ cao hơn tai kia (xem Hình 7).

Hình 7

Một trong những dấu hiệu này chỉ rằng xương hông bị lệch.

b. Dấu hiệu biểu thị trên cơ thể hoặc trong cử động của cơ thể

Sự chuyển lệch xương hông không những chỉ biểu hiện ở trên mặt mà còn thấy cả trên những bộ phận của cơ thể và trong những cử động vô ý thức của chúng. Nếu chú ý ta có thể nhận ra được hiện tượng này.

Người thì có đầu vênh sang một bên, người thì có vai nọ cao hơn vai kia, người thì có cánh tay dài ngắn khác nhau, người thì có cột sống bị nghiêng, người thì có ngón chân quay vào trong hoặc ra ngoài hoặc hình chữ X, người thì có chân lớn nhỏ khác nhau, người thì có vùng thắt lưng không ngang bằng với chiều cao, người thì luôn luôn có cổ vặn, người thì không ngủ sâu được nếu không nằm xấp hoặc nằm nghiêng, người có chân đi không bình thường, người luôn luôn bị thương tổn ở một cẳng chân hoặc bàn chân, người có một vú rất bé và người sinh đẻ khó. 

Những dấu hiệu thể hiện sự chuyển lệch xương hông trên cơ thể và những cử động của cơ thể không loại trừ ai.

2. Cách phát hiện sự chuyển lệch xương hông qua điệu bộ và sự cử động

Trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường có điệu bộ và cử chỉ vô ý thức. Phân tích những điệu bộ và cử chỉ đó người ta cũng nhận ra được những chuyển lệch.

a. Những dấu hiệu của chuyển lệch xương hông phải

+ Nằm sấp bụng

Đường thẳng xương hông phải cao hơn đường xương hông trái. Dùng ngón tay cái bấm vào xương hông phải và xương hông trái, bạn sẽ thấy xương hông phải cao hơn xương hông trái. Nếp da nhăn do bị bấm kéo dài lên ở phía tay phải (xem hình 8).

 Hinh 8 và 9

Vì xương hông phải cao hơn xương hông trái nên chân phải bị nhấc cao lên. Hệ quả là nếu chụm gót chân phải và trái vào nhau, chân phải có vẻ ngắn hơn chân trái (xem hình 9).

Khi xương hông phải bị chuyển lệch thì sẽ xảy ra sự cản trở mãn tính về lưu thông máu xung quang xương hông phải và làm căng cứng những cơ bắp xưng quang. Nó gây trở ngại cho việc giãn khớp hông phải và nâng hông phải lên khi nằm sấp ngực (xem hình 10).

Hình 10

Nêu người có xương hông phải bị lệch nằm sấp bụng để chân trái co lên một cách vô ý thức và chân phải để thẳng (xem hình 11).

Hình 11

+ Nằm ngửa lưng

Người có xương hông phải bị chuyển lệch, khi nằm ngửa lưng, thường có 3 điệu bộ sau đây:

– Chân trái đặt lên chân phải khi khép chân (xem hình 12A).

– Chân phải duỗi và chân trái co lại (xem hình 12B).

– Chân trái xoay ra phía ngoài và những ngón chân trái áp vào tấm ván giường trong lúc những ngón chân phải không áp sát được vào ván giường (xem hình 12C).

  Hình 12

+ Nằm nghiêng một bên

Chân phải đặt dười chân trái khi hai chân khép lại (xem hình 13).

 Hình 13

+ Ngồi trên ghế

Khi ngồi thì phần trên của thân hình nghiêng bên phải vì chân phải ngắn hơn chân trái. Để cân bằng dĩ nhiên ta nghiêng đầu sang trái (xem hình 14).

Vì khớp hông cử động khó khăn, nên ống chân trái luôn luôn để trước ống chân phải khi chúng khép lại (xem hình 15A). Nếu người ta muốn để ống chân phải ra trước, người ta cảm thấy không thoải mái. Nếu người ta đặt ống chân trái lên ống chân phải, người ta cảm thấy khó khăn và dễ mỏi (xem hình 15B).

Hình 15

Nếu không khép ống chân lại, ống chân trái duỗi ra hơn ống chân phải (xem hình 16A). Nếu khép ống chân lại thì những ngón chân trái dịch ra phía trước những ngón chân phải (xem hình 16B). Nếu người phụ nữ xếp chân lên nhau, thì thân hình bị nghiêng sang trái.

Hình 16

+ Đứng

Vì chân phải tương đối ngắn hơn nên xương hông trái nâng lên. Đường thẳng xương hông cao lên ở phía trái. Nên nhớ rằng trường hợp này không như khi nằm sấp bụng (xem hình 17A). Khi ở tư thế nghỉ thì trước hết con người luôn luôn đưa chân trái ra phía trước để trọng lượng thân mình đè lên chân phải và khi mỏi chân họ mới đổi chân. Điều đó là do khớp hông trái cử động dễ dàng hơn (xem hình 17B). Khi người phụ nữ đứng, họ thường dồn trọng lượng thân thể lên chân phải, đặt chân trái ra phía trước (xem hình 17C).

Hình 17

Người có xương hông phải bị chuyển lệch phải dồn trọng lượng thân thể lên chân trái lúc đi bộ. Để giữ được sự cân bằng, cột sống phải cong qua phải và thân hình sang phía trái. Hệ quả là vai trái hạ thấp xuống. Để tạo ra sự cân bằng cho cơ thể, đầu phải nghiêng sang phải (xem hình 18). Người có vai bị hạ thấp rõ ràng thì cột sống của họ bị uốn cong nghiêng trọng, họ phải chữa càng sớm càng tốt bằng phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông.

Hình 18

+ Ngồi

Người Nhật có thói quen ngồi trên đầu gối với bàn chân trái đặt trên bàn chân phải (xem hình 19). Càng ngồi thường xuyên như thế, sự chuyển lệch xương hông càng trở nên nghiêm trọng.

Hình 19

Nếu quỳ gối một bên, người ta phải đưa cả hai đầu gối sang trái (xem hình 20). Nếu người ta đưa hai đầu gối sang phải, người ta không thể ngồi yên và cảm thấy không thoải mái. Điều này cho thấy sự chuyển lệch xương hông đã tăng. Khi người ta ngồi trên đầu gối với ống chân gác chéo thì ống chân trái được đặt bên trong ông chân phải (xem hình 21).

+ Đi xuống bậc thang

Khi người ta đi xuống theo bậc thang thì người ta ngoáy chân trái ra ngoài vì chân trái dài hơn chân phải. Thậm chí đi chậm, người ta cũng ngoáy chân trái (xem hình 22).

b. Những dấu hiệu chuyển lệch xương hông trái hay loại phối hợp

Trong giai đoạn đầu, loại chuyển lệch xương hông trái cũng giống hệt như loại chuyển lệch xương hông phải. Chúng chỉ khác nhau về hướng. Cả hai loại này đều có thể phát triển thành loại phối hợp. Vì thế người ta bị chuyển lệch xương hông loại phối hợp là người không mang đặc tính rõ ràng về chuyển lệch xương hông phải hoặc trái.

c. Những dấu hiệu khác

Ngoài các dấu hiệu nói trên, tất cả các loại chuyển lệch xương hông đều có những dấu hiệu tinh tế khác khó có thể nhận ra chúng thuộc loại chuyển lệch xương hông nào.

+ Tầm vóc cơ thể và tóc

Loại chuyển lệch xương hông phải: Người không béo lên được và có tóc xám.

Loại chuyển lệch xương hông trái: Người luôn luôn béo từ lúc mới sinh và người có đầu hói.

Loại phối hợp: Người béo sau đó giảm thể trọng một thời gian và gầy đi, rồi lại béo lên. Tóc thì thưa và xám.

+ Chệch lỗ rốn:

Loại chuyển lệch xương hông phải: Người có lỗ rốn chệch sang trái.

Loại chuyển lệch xương hông trái: Người có lỗ rốn chếch sang bên phải.

+ Mòn bàn chân: Loại chuyển lệch xương hông phải: Bàn chân trái mòn nhiều hơn bàn chân phải và không đồng đều vì chân phải yếu hơn chân trái và phải đỡ lấy phần lớn trọng lượng cơ thể.

 Loại chuyển lệch xương hông trái: Trái ngược với loại trên.

Loại phối hợp: Một trong hai bàn chân mòn nhiều hơn.

Điệu bộ ngồi khi đi vệ sinh

Loại chuyển lệch xương hông phải: Sau khi ngồi, người ta nhón đầu bàn chân trái trước bàn chân phải và bàn chân trái quay ra phía ngoài hơn bàn chân phải.

Loại chuyển lệch xương hông trái: Ngược lại loại trên.

Loại phối hợp: Những dấu hiệu của hai loại trên luân phiên nhau.

+ Xòe những ngón tay

Loại chuyển lệch xương hông phải: Người có thể xòe ngón tay cái của bàn tay trái xa các ngón khác khép lại trong cùng một tay, rộng hơn ở bàn tay phải (xem hình 23 A). Người có thể xòe các ngón tay trái rộng hơn những ngón tay của bàn tay phải (xem hình 23 B).

Người có thể làm dấu hiệu chữ V bằng bàn tay trái rộng hơn bàn tay phải (xem hình 23C).

Loại chuyển lệch xương hông trái: Ngược với loại trên.

+ Choạc ngón chân cái ra ngoài.

Loại chuyển lệch xương hông phải: Ngón chân cái của bàn chân trái choạc ngoài đến mức nó chặn lại trên hoặc bị đè xuống dưới ngón chân thứ hai vì thân thể bị đè nặng lên chân trái (xem hình 24).

Loại chuyển lệch xương hông trái: Ngược với loại trên.

Loại phối hợp: Ngón chân trái choạc sang một bên, còn nghiêm trọng hơn, ở cả hai bàn chân trái và phải.

 Người có xương hông bình thường không có ngón chân cái sang một bên và nếu có thì cũng chỉ hơi choạc ra vì trọng lượng thân thể họ đặt đều lên cả hai chân phải và trái. Nếu để ý, ta sẽ thấy ở trẻ con không hề có hiện tượng này.

+ Tiếng kêu răng rắc ở những ngón tay

Loại chuyển lệch xương hông phải: Các khớp xương ở bàn tay phải và bàn chân phải hoàn toàn không kêu răng rắc nếu ta kéo chúng hết ngón này đến ngón khác, hoặc chỉ kêu nhỏ so với những ngón của bàn tay trái và bàn chân trái.

Những cơ bắp của chân phải thuộc loại này cứng hơn những cơ bắp chân trái và máu lưu thông không tốt ở chân phải. Điều đó ảnh hưởng xấu đến ngón tay và ngón chân. Loại này chuyển trọng lượng thân thể chủ yếu qua chân trái để bảo vệ chân yếu, làm cho chân phải thiếu hoạt động, hệ quả là cơ bắp của chân phải trở nên cứng hơn và máu lưu thông không tốt ở chân phải. Do cơ bắp cứng nên các khớp ngón bàn tay phải và bàn chân phải vận động khó khăn. sự quá tải trên chân trái cũng dẫn đến sự căng thẳng tay phải, gây khó khăn cho cử động các khớp bàn tay phải.

Loại chuyển lệch xương hông trái: Ngược lại với loại trên.

Loại phối hợp: Một số khớp của ngón tay phải và ngón chân phải cũng như các ngón tay trái và ngón chân trái có kêu răng rắc nhưng một số khác thì không hoặc tất cả mọi ngón đều không kêu.

+ Phán đoán theo triệu chứng

Loại chuyển lệch xương hông phải: Nhức nửa đầu bên phải, thị lực mắt phải kém, nghẹt lỗ mũi phải, răng đau ở phía bên phải, viêm tai giữa ở bên phải, ê ẩm ở vai phải, ê ẩm ở bên phía cổ, đau ở bên phải cột sống, cử động khó khăn ở cổ tay phải, đau thần kinh liên sườn phải, đau ở phía phải thân mình, đau ở phía bên phải bụng, đi lỏng, kinh nguyệt không đều và những triệu chứng khác xuất hiện ở phần trên bên phải của thân mình.

Loại chuyển lệch xương hông trái: Ngược với loại trên, chỉ có chứng đi lỏng được thay bằng đi táo.

Loại phối hợp: Các triệu chứng xuất hiện ở phía bên phải và phía bên trái thân mình, đồng thời luân phiên nhau.

Táo bón và đi lỏng cùng luân phiên nhau.

+ Các phán đoán qua hiện tượng co giật chân:

Loại chuyển lệch xương hông phải: Cảm giác bị co giật mạnh hoặc đau nhói ở bắp vế, bắp chân và những chỗ khác của chân phải khi người ta nghiêng mình về phía trước với hai bàn tay duỗi về các ngón chân, với chân gần nhau bằng chiều rộng của vai (xem hình 25A) và khi người ta ngồi trên tấm ván, chân giang rộng ra, ép ngực về phía chân phải (xem hình 25B).

Loại chuyển lệch xương hông trái: Cảm giác đau chuyển sang trái.

Loại phối hợp: Cảm giác đau đều cả hai chân.

VI. HIỆU QUẢ KỲ LẠ CỦA PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHỈNH XƯƠNG HÔNG

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông cũng thích hợp với bạn.

Sự chuyển lệch xương hông là bệnh thường xảy ra. Sự tiến triển của nó ở mọi người bệnh là như nhau. Vì thế cần phải có phương pháp chữa bệnh phổ cập, thích hợp đối với mọi người. Theo tôi, không có cách nào khác hơn là phương pháp trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông. Trên thực tế, những ai đến chữa ở Viện tôi đều đạt kết quả chắc chắn.

Người nào còn cho rằng phép trị liệu này không thích hợp với mình thì hãy nên thử và cũng chưa muộn để kết luận nó có thích hợp với mình hay không. Những người đến tôi chữa mới được một vài lần đã hấp tấp nói thôi không chữa theo cách này do không thấy hợp, theo tôi nhận xét là do họ đã mất lòng tin thắng được bệnh.

Phần lớn những người này đã trải qua hàng chục, thậm chí hàng trăm lần châm cứu, xoa bóp bằng ngón tay hay cách chữa khác làm cho da bị chai như da voi do sự kích thích lâm dài. Để chữa những bệnh nhân này, người ta phải tăng cường sự kích thích vì nếu làm khác đi sẽ không có kết quả. Vì thế nếu mới áp dụng vai lần phép trị liệu này mà đã vội kết luận là không đúng.

Phép trị liệu này của tôi đã được áp dụng rộng rãi. Nó đã chữa lành được nhiều bệnh nhân tưởng không thể chữa được. Hãy thử áp dụng phép trị liệu này và tôi tin chắc rằng các bạn sẽ cảm ơn tôi.

Cách thức đúng đắn để chữa lành bệnh nhanh

Mặc dù phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông thích hợp với mọi người nhưng phải chú ý đến cách chữa đúng đắn mới đạt được hiệu quả mong muốn.

Thứ nhất, là không chỉnh khớp cho trẻ em mới 4 -5 tháng tuổi và thứ hai là không được chữa thô bạo đối với người quá béo, quá gầy hoặc quá già.

Đối với bệnh nhân đã nặng, đã chữa đi chữa lại nhiều lần nhưng chưa khỏi, ta phải áp dụng phép trị liệu này thật kiên nhẫn và khéo léo. Không có trường hợp nào lại không áp dụng được phép trị liệu này.

Ví dụ: Phải chuyển những bệnh nhân đau tim nặng cho người già dặn kinh nghiệm mới có thể “cứu” được những quả tim yếu. Việc áp dụng không khéo léo phép trị liệu này có thể làm hỏng việc. Do đó những bệnh nhân nặng phải cần đến những người điều trị lành nghề.

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là phương pháp phát triển “tài năng” tự chữa bệnh cho mình nhưng phải theo đúng đắn cách thức mới làm cho phép trị liệu này có hiệu quả. Bệnh nhân nặng như thế nào cũng có thể chữa khỏi, thậm chí lúc “lực sống” của họ còn chút ít.

Những người được chữa khỏi bệnh qua thời gian đau lâu

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông chữa hiệu nghiệm được mọi chững bệnh. Sau đây xin nêu lên một vài ví dụ cụ thể về hiệu quả đã đạt được bằng phép trị liệu này để các bạn biết trước khi áp dụng nó.

1. Ví dụ về trường hợp bình thường

– Bệnh Kolagena: Y.M. đàn ông 51 tuổi lệch xương hông phải 1,5 cm, bị bệnh viêm da – cơ, thấp khớp, giảm huyết áp, chứng xanh tím đau lưng. Ông đã khỏi bệnh sau khi tôi trị liệu 20 tới 30 lần.

– Hội chứng Hiperventola: F.M phụ nữ 35 tuổi bị lệch xương hông phải 1cm bị đau bụng kinh, đau răng và bi quan. Cô được chữa khỏi sau 22 lần trị liệu.

– Bệnh viêm ruột kết kích thích: T.S phụ nữ 44 tuổi bị lệch xương hông trái 1cm, mắc chứng sợ rét, huyết áp cao và những triệu chứng khác cô được lành bệnh sau 20 lần chữa.

– Bệnh nhồi máu cơ tim: M.L đàn ông 55 tuổi bị lệch xương hông phải 2cm khổ sở về chứng nhồi máu cơ tim liên tục. Ông trở lại hoạt bát sau 20 lần chữa và hiện đang sống bình yên.

– Bệnh van tim: Y.O. phụ nữ 36 tuổi, có hơn 20 triệu chứng yếu tim. Cô đã lành bệnh sau 65 lần chữa.

– Chứng cường tuyến giáp: T.H. phụ nữ 60 tuổi không bị lệch xương hông, cảm thấy dễ chịu sau 6 lần chữa và hơn 30 triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật được thuyên giảm sau 3 lần chữa.

– Chứng cường tuyến giáp: S.O. phụ nữ 57 tuổi bị lệch xương hông phải 2cm, có hơn 40 triệu chứng biến mất sau 15 lần chữa.

– Bệnh viêm tụy: F.M. phụ nữ 34 tuổi, có hơn 20 triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật hầu như biến mất sau 6 lần chữa.

– Bệnh viêm phổi: M.F. phụ nữ 36 tuổi, bị lệch xương hông phải 2,5 cm, bị sưng phổi 16 năm, tăng lipit – huyết, đau kinh, hạ huyết áp với hơn 30 triệu chứng. Cô khỏi bệnh sau 66 lần chữa.

2. Ví dụ trường hợp kéo dài

K.K. phụ nữ 47 tuổi bị đau lưng, sỏi mật và phát phì, đã khỏi bệnh sau 165 lần chữa liên tục, là một ví dụ về chữa kéo dài.

3. Ví dụ về trường hợp bệnh nghiêm trọng

– P.O. nam 57 tuổi bị lệch xương hông phải 1,5 cm bị ung thư gan giai đoạn cuối. Bệnh đã thuyên giảm sau 20 lần chữa, nhưng tái phát nặng sau khi ngừng chữa theo yêu cầu của gia đình, và ông đã chết sau 1 tháng.

– T.S. nữ 60 tuổi bị lệch xương hông phải 3cm. Yếu toàn thân, không ăn được và mất ngủ. Bà đã khỏi sau 20 lần chữa.

4. Ví dụ về cách chữa tự nhiên không phẫu thuật

– T.H. trai 19 tuổi bị lệch xương hông phải 3cm mắc chứng đau hông trầm trọng vì sa đĩa đệm cột sống. Người ta khuyên anh ta đi mổ nhưng anh ta sang chữa ở Viện tôi. Bệnh anh khỏi sau 6 lần chữa.

– K.K. nam 64 tuổi bị lệch xương hông phải 2cm, luôn luôn dày vò vì bị bệnh đau lưng từ su thế chiến thứ 2 và không chữa được. Nhiều người khuyên ông đi mổ nhưng ông tìm phép trị liệu của tôi, đến chữa và được lành bệnh sau 25 lần chữa. Và hơn 20 triệu chứng khác cũng được thuyên giảm sau 50 lần chữa.

5. Ví dụ về chữa lành bệnh sau khi phẫu thuật không kết quả

– O. nam 45 tuổi bị lệch xương hông trái 1cm mắc chứng đau lưng kinh niên trong 20 năm. Sau khi đi mổ 2 lần không có kết quả, ông đến nhờ tôi trị liệu và đã lành bệnh sau 5 lần chữa. Chứng ù tai và lạnh lưng biến mất sau 20 lần chữa.

– S.M. nữ 32 tuổi, bị lệch xương hông phải 1cm mắc chứng đau lưng vì sa đĩa đệm cột sống và đã đi phẫu thuật. Sau đó bà đến tôi chữa và đã khỏi chứng đau lưng sau 4 lần trị liệu. Đồng thời, các chứng đau ở vai, ở lưng và cổ chân cũng không còn.

Những ví dụ trên đây chỉ là một phần trong những thành công của tôi. Tôi nghĩ rằng phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông đã có hiệu quả đáng chú ý đối với tất cả các bệnh và có thể thuyết phục được các bạn là không có chứng bệnh nào ngoại lệ.

Những phản ứng chỉnh xương là dấu hiệu báo trước bệnh xắp lành

Một số bệnh nhân nào đó than phiền rằng những triệu chứng của họ nặng thêm sau khi được chữa theo phép trị liệu này. Theo tôi, đó chỉ là hiện tượng phản ứng chỉnh xương hông. Những phản ứng này có thể thấy được nhiều nhất ở những bệnh trầm trọng, hoặc ở những bệnh nhân đến chữa chập chờn từng thời gian ngắn. Những phản ứng đó xuất hiện ở ngay những người khỏe. Chúng sẽ mất dần sau khi chữa. Nói chung, chúng xuất hiện 2 đến 3 lần ở những người chữa được 20 lần và 1 lần ở những người đã chữa được nhiều lần sau đó.

Những phản ứng này nói lên hiệu quả chữa bệnh tốt và bệnh sắp khỏi.

Cơ chế phản ứng chỉnh xương hông

Tại sao xảy ra những phản ứng chỉnh xương hông?

Điều này được giải thích bằng việc chuyển lệch xương hông phải như sau: Người bị chuyển lệch xương hông phải trọng lượng thân mình sang chân trái khi anh ta đứng. Phép trị liệu chỉnh xương hông nhằm chuyển trọng lượng ấy từ chân trái qua chân phải, như thế sự lưu thông máu khó khăn ở phần trên bên phải cơ thể trở nên dễ dàng và điều hòa. Vì trọng lượng chuyển sang phần bên trái phía trên cơ thể, nó hầu như gây ra sự chuyển chỗ từng lúc của xương hông trái. Hệ quả là xuất hiện sự căng thẳng hoặc cứng lại những bắp và những cơ có liên quan với phần bên trái phía trên cơ thể đó hoặc triển khai những triệu chứng cũ. Những phản ứng chỉnh xương hông không biến mất trong nửa tháng hoặc một tháng khi dừng giữa chừng “cuộc” trị liệu vị sợ những phản ứng đó. Trong khi đó, nếu tiếp tục trị liệu thì những phản ứng đó biến mất trong khi chữa.

Những phản ứng này là cột mốc chỉ dẫn cho bạn đi đến sức khỏe tốt. Vì thế người bệnh nên vui vể chịu đựng những phản ứng này. Thật là sai lầm nếu bệnh nhân lại coi đó là sức khỏe bị kém đi so với trước khi chữa. Hãy con những phản ứng này như những cơn đau từng lúc đối với toàn thân của bệnh nhân khi đó được xoa bóp ở chỗ vai bị co cứng.

VII. PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHỈNH XƯƠNG HÔNG TẠI NHÀ

Chú ý: 

Bất kỳ ai cũng có thể thực hiện phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông, nhưng chỉ có những động tác thích hợp đưa lại những hiệu quả như mong muốn. Phép trị liệu đạt được mục đích chữa bệnh bằng các lực nhất định tác động vào cơ thể con người. Những động tác không thích hợp chẳng những không đưa lại hiệu quả chữa bệnh mà thậm chí còn gây ra những chấn động thường bất ngờ. Vì vậy người chữa bệnh phải ghi nhớ những điều đáng chú ý sau đây:

1. Bệnh nhân phải mặc quần áo nhẹ nhàng, mỏng và mềm, và phải cởi hết dày, kính đeo mắt, đồng hồ đeo tay, trang sức và những thứ khác,…

2. Người chữa phải mặc quần áo thuận tiện cho cử động.

3, Phải chữa bệnh trên đệm, nếu không thì trên gối, chăn len, thảm hoặc trên những thứ tương tự.

4. Nhiệt độ trong phòng phải ôn hòa.

5. Bệnh nhân phải hoàn toàn thư giãn và giữ tâm hồn tỉnh táo.

6. Cần đặt gối (hoặc đầu gối) kê dưới ngực bệnh nhân khi họ nằm sấp để trị liệu. Nếu ngực không được kê vào đệm thì dễ gây chấn thương ở gần sườn.

7. Nếu bệnh nhân là trẻ con, người già, người quá béo hoặc quá gầy thì người chữa phải chú ý phạm vi cử động của các khớp xương và không dùng quá nhiều sức mạnh của mình.

8. Người chữa phải chú ý đầy đủ không dùng cử động quá mạnh khi chữa bệnh nhân bị phẫu thuật ở khớp xương đầu gối và hông.

9. Bệnh nhân không được đột ngột ngừng thuốc đang dùng và phải giảm liều lượng thuốc đang dùng theo hiệu quả chữa bệnh.

10. Ta bắt đầu chữa ở những bộ phận cơ thể bệnh nhân dễ cử động rồi triển khai dần nội dung chữa, không bóp nắn dễ dãi những bộ phận thân thể mà hiệu quả chữa bệnh chưa chắc chắn.

11. Bệnh nhân phải được chữa một lần mỗi ngày, bệnh nhân nặng hoặc người vạm vỡ có thể được chữa hai lần 1 ngày, ít nhất cũng mỗi tuần lễ một lần. Đối với người thử chữa để phòng bệnh từ 1 – 2 tháng 1 lần cũng được.

12. Lý tưởng nhất là chữa bệnh có hệ thống theo kế hoạch của phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông. Đối với bệnh nhân do hoàn cảnh hạn chế không thể chữa bệnh có hệ thống được, vì chữa bệnh từng phần cũng có thể đem lại hiệu quả đáng hài lòng. Chủ yếu là cách chữa bằng chỉnh xương hông có thể đạt được 80% hiệu quả chữa bệnh toàn bộ.

13. Cách chữa bệnh nhiều lần cũng không vô ích. Chữa càng nhiều lần thì thân thể càng trở nên dẻo dai. Nói chung, sau 20 đến 30 lần của một đợt chữa thì các triệu chứng đã có thể giảm đi. Sau đó, người ta có thể đề xuất cách chữa tiếp tục theo tình hình cụ thể.

Điều đáng nói là người ta không được ngừng chữa khi thấy triệu chứng bệnh mất đi mà phải tiếp tục chữa cho đến khi những xương và cơ bắp hoàn toàn bình thường. Chỉ bằng cách đó người ta có thể phòng ngừa bệnh tái phát hoặc mắc phải chứng bệnh khác nghiêm trọng hơn.

Sự dẻo dai của cơ thể con người không giống nhau cũng như những lần chữa cần thiết để làm mềm cơ bắp đều khác nhau đối với những con người khác nhau. Trong phép bóp nắn, người chữa có thể biết được thân thể người bệnh đã mềm mại chưa. Những cơ bắp bị co cứng quá thì khó có thể bóp nắn được. Khi bắp thịt trở lại mềm mại là người ta có thể chỉ dùng những ngón tay cái ấn sâu vào chúng, lúc đó dĩ nhiên phạm vi nắn bóp cũng mở rộng. theo dõi những cử động hay sự co duỗi của khớp xương, trong khi chữa, người ta có thể xét đoán sự mềm mại của tổ chức. Khi những cơ bắp và những tổ chức có liên quan bị co cứng, phạm vi hoạt động của các khớp xương trở nên ít hơn. Nếu không nghe tiếng kêu răng rắc vào lúc chỉnh xương thì điều đó chứng tổ là các khớp xương không vận động được, các bắp thịt và các tổ chức có liên quan bị co cứng. Khi nghe tiếng kêu răng rắc cũng chưa thể nên vội khẳng định là cơ thể đã đủ mềm mại. ta phải đánh giá tổng hợp qua sắc thái tiếng kêu.

Những điệm nêu ra trên đây có thể tóm tắt đơn giản như sau:

Trạng thái co cứng: Khớp xương hông không thể duỗi ra và không thể chỉnh được, thậm chí sau khi đã áp dụng các phương pháp chỉnh, dĩ nhiên không nghe tiếng kêu răng rắc trong lúc chỉnh. Bệnh nhân cảm thấy đau nhiều hoặc không cảm thấy gì cả.

Trạng thái hơi mềm: Xương bị lệch được chỉnh lại chút ít, sự chỉnh lại có tiếng kêu răng rắc và nhẹ. Chỉ có một hoặc hai đốt sống có tiếng kêu. Bệnh nhân cảm thấy đau.

Trạng thái mềm mại: Việc chỉnh xương được chọn vẹn, các khớp liên quan phát tiếng kêu rõ ràng khi được chỉnh. Các bắp và cơ liên quan mềm mại và cơ giãn. Bệnh nhân không cảm thấy đau.

Cuối cùng, bệnh nhân không nên để mình quá mệt mỏi và phải sống điều độ. Nếu không thể thì việc chữa bệnh cho họ không đem lại kết quả mong muốn.

Các động tác cơ bản

Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông có tất cả 100 động tác. Tốt nhất là người chữa cần làm được tất cả các động tác đó khi chữa bệnh. Nhưng chúng không dễ nhớ đối với người bận nhiều việc. Để dễ nhớ các động tác này, tập sách chia chúng thành hai nhóm:

– Nhóm thứ nhất gồm những động tác cơ bản dùng để chữa cho mọi triệu chứng bệnh.

– Nhóm thứ hai là những động tác chữa bệnh cụ thể, dùng để chữa bệnh có liên quan.

Dù vậy, người chữa phải cố gắng nhớ hết và khéo léo nắm chắc toàn bộ các biện pháp chữa và thực hiện gần như đầy đụ mỗi lần chữa bệnh. Chỉ bằng cách đó ta mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất.

Hiệu quả chữa bệnh tùy thuộc vào thói quen và tài khéo léo của người chữa. Vì thế, điều quan trọng đối với người chữa là phải thuộc lòng những giải thích trong các hình vẽ, nắm đầy đủ mục đích và những yêu cầu cơ bản của mỗi động tác. Không thể tác rời cách chữa do kỹ thuật vụng về và hiệu quả kém mà phải kiên trì thực hành và chăm chú nắm cho được các động tác. Sau khi thực hiện được điều đó, chắc chắn họ có thể dần dần nắm vững thực chất của phép trị liệu và qua đó cũng cải thiện được hiệu quả chữa bệnh.

Bây giờ tôi giới thiệu các động tác cơ bản.

Về thực chất, những động tác cơ bản là những động tác chữa bệnh để chỉnh xương hông bị lệch và làm thẳng cột sống, được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

1. Chỉnh các khớp và đốt ngực trên và những tiếng kêu khi đánh dấu hiệu quả của động tác.

2. Chỉnh các đốt ngực giữa và dưới các đốt lưng. Tiếng kêu chỉ chính xác nhận hiệu quả.

3. Chỉnh các đốt ngực dưới và đốt lưng. Có thể nghe tiếng kêu nếu lưng trở nên co giãn.

4. Dùng tay bóp liên tục và nắn các bắp thịt ở cuối cùng cột sống và hai bên cột sống, bìa trên xương bả vai cho đến khi bìa trên của mỏm xương hông để làm mềm mại những bắp thịt bị căng hoặc bị co cứng và tiếp theo đưa xương hông vào vị trí bình thường.

5. Chỉnh khớp cùng xương hông. Nếu các bắp thịt xung quanh khớp mềm đi thì có thể nghe tiếng kêu răng rắc ở một phía sườn của bệnh nhân. Khớp cùng xương hông trong y học gọi là khớp bất động, tuy nhiên tiếng kêu chỉ ra rằng chúng cũng có thể cử động.

6. Bước cuối cùng là chỉnh xương hông. Nếu sự căng thẳng của dây chằng xương hông và nhóm bắp thịt xung quanh mất đi thì cũng có thể nghe rõ tiếng kêu khi chỉnh. Các khớp xương hông của những người thường hay đi bộ dễ giãn ra. Điều đó chứng tỏ rằng các khớp xương hông là quan trọng khi đi bộ.

Sau khi áp dụng những biện pháp chữa bệnh nói trên đối với bệnh nhân thì ta cho bệnh nhân nằm sấp để quan sát đường xương hông. Nếu có nằm ngang và tạo thành góc vuông với cột sống thì ta có thể khẳng định rằng xương hông của bệnh nhân đã được chỉnh.

Ngay đối với người chữa có kinh nghiệm, rất khó có thể chỉnh toàn vẹn trong một lần những xương của bệnh nhân với các bắp thịt bị co cứng. Vì thế, đừng nên nghĩ rằng ta có thể chỉnh tức khắc những xương có những cử động như trên mà là phải kiên trì trong khi chữa bệnh.

Những động tác trên giữ vai trò quan trọng trong việc chỉnh những xương trong toàn bộ cơ thể và có thể có được những hiệu quả chữa bệnh chắc chắn trong thời gian ngắn. Vì thế, tôi hy vọng rằng người chữa, ngay từ đầu, phải cố gắng nắm vững những động tác đó và cũng chỉ bằng cách đó họ mới có thể phục vụ được bệnh nhân ở mọi nơi, mọi lúc.

 1. Chỉnh khớp vai và những đốt ngực trên

Người chữa ngồi xổm sau bệnh nhân, ngón chân chống đất và hai đầu gối kìm chặt mông người bệnh. Bệnh nhân ôm vòng xương chẩm bằng hai tay đan vào nhau. Người chữa choàng bàn tay qua dưới nách bệnh nhân và đặt chúng lên bàn tay bệnh nhân (Xem hình 26A). Trong khi kéo bệnh nhân về phía mình, người chữa đồng thời nâng mạnh người bệnh lên. Nếu có vài tiếng kêu thì điều đó chứng tỏ là các xương đã được chỉnh. Những động tác này đòi hỏi người chữa phải ngồi thẳng người và ngực ấn vào lưng bệnh nhân (xem hình 26B).

Hình 26: Vị trí bàn tay của người chữa và bệnh nhân

Video hướng dẫn chỉnh khớp vai và những đốt sống ngực trên tại đây:

2. Chỉnh cột sống: Xem mục (1).

3. Chỉnh các đốt lưng: Người chữa đặt đầu gối bên phải lên bắp vế bệnh nhân, luồn tay trái qua dưới nách bệnh nhân để nắm lấy tay phải của bệnh nhân đặt lên vai trái bệnh nhân, đẩy vai phải bệnh nhân ra phía trước bằng tay phải để xoay người họ sang phía trái. Nếu cảm thấy trở ngại thì người chữa tăng thêm sức (hình 27A).

 Hình 27: Vị trí bàn tay của người chữa

 Khi quay nghe tiếng kêu ở cột sống, điều đó chứng tỏ việc chỉnh xương có kết quả. Sau đó, người chữa làm lại động tác theo hướng ngược lại (xem hình 27B).

Video tham khảo chỉnh các đốt sống lưng:

4. Bóp nắn bắp thịt xương cùng- cột sống trên: Người chữa cưỡi trên thân bệnh nhân và dùng ngón tay bóp nắn các cơ xương cùng-cột sống phía trên xương bả vai 10 lần ở mỗi điểm (xem hình 28).

5. Bóp nắn các đốt lưng (xem hình 2).

6. Chỉnh các khớp cùng-chậu phải: xem hình 4.

7. Chỉnh các khớp cùng-chậu trái: xem hình 5.

8. Chỉnh các khớp háng (hông) bên trái: Bệnh nhân nằm bên phía phải, xoay mặt một chút sang phía phải, kéo dồn tự nhiên vai trái, đặt hai bàn tay trước ngực, co chân phải và duỗi chân trái. Người chữa ấn bàn chân phải vào mắt cá chân phải của bệnh nhân để bàn chân trái ở bên. Sau đó, người chữa dùng hai bàn tay nắm lấy bàn chân trái của bệnh nhân và vặn nó sang trái sang phải.

Hình 28

1. Cơ hình thang 6. Cơ cơ lưng to
2. Cơ nâng xoay bả vai 7. Cơ răng cưa bé sau dưới
3. Cơ thoi 8. Cơ liên sườn ngoài
4. Cơ cột sống trên 9. Cơ ngang lưng
5. Cơ răng cưa bé sau trên 10. Cơ xương cùng – đốt sống trên (cơ thăn)

Ấn bàn chân phải của mình vào bàn chân phải của bệnh nhân, người chữa dùng hay tay vặn bàn chân trái của bệnh nhân vào trong và kéo mạnh chân đó. Nếu cảm thấy trở ngại thì phải tăng thêm sức. Những động tác này lặp lại 2-3 lần (xem hình 29).

Hình 29

9. Chỉnh khớp hông phải:

Bệnh nhân nằm bên phía trái, xoay mặt vào một chút sang phía trái, đặt hai bàn tay trước ngực, co chân trái và duỗi chân phải, người chữa dùng bàn chân trái ấn vào mắt cá chân trái của bệnh nhân và để chân phải ở bên. Sau đó, người chữa dùng hai tay nắm lấy bàn chân phải của bệnh nhân và vặn nó sang phía phải và phía trái. Dùng chân trái ấn vào bàn chân trái của bệnh nhân, người chữa lấy hai tay vặn bàn chân phải của bệnh nhân vào trong và kéo mạnh chân đó. Nếu cảm thấy trở ngại thì phải tăng thêm sức. Lặp lại 2-3 lần các động tác này (xem hình 30).

Hình 30

Các động tác để chữa bệnh đau lưng

      Nhiều người bị bệnh đau lưng, vậy nguyên nhân của triệu trứng đau lưng là gì? Trước hết ta xét về bệnh này trước khi xem cách chữa.

      Nhiều chứng bệnh như các loại bệnh về cơ bắp, xương, thần kinh, cơ quan nội tạng,… đều có thể gây ra chứng bệnh đau lưng. Việc sử dụng không  điều độ sức lực vào lưng cũng có thể gây ra bệnh đau lưng. Nếu bệnh thực tế chỉ ở thân người và đau lưng chỉ là triệu chứng của bệnh vùng thắt lưng thì y học không gọi là triệu chứng đau lưng. Chỉ những hiện tượng đau xương lưng không có nguyên nhân rõ ràng mới được gọi là triệu chứng đau lưng.

       Hiện tượng đau thân mình do cơ bắp căng thẳng phần nhiều được gọi là đau lưng. Vì nó có nguyên nhân rõ ràng nên người ta cóc thể gọi nó là đau cơ bắp thắt lưng. Đáng tiếc là người ta không gọi nó như thế.

       Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông chưa đưa ra bảng phân loại về nguyên nhân. Mọi chứng đau thân mình đều là bệnh đau lưng.

      Tất cả triệu chứng của thân thể con người đều gây ra từ việc chuyển lệch xương hông. Sự căng thẳng và xơ cứng các bắp thịt và các tổ chức liên quan đều do sự biến dạng xương, do lệch xương hông gây đau âm ỷ ở thân người. Điều trị sự chuyển lệch xương hông, biến dạng xương, sự căng thẳng cơ bắp và xơ cứng các tổ chức có liên quan bằng phép trị liệu này có thể làm khỏi bệnh nhân đau lưng. Đến Viện tôi hang ngày có các bệnh nhân được thầy thuốc Tây y hội chẩn là thoát vị đĩa đệm cột sống vùng thắt lưng và sa cột sống và họ đều đã được Viện tôi chữa cho lành bệnh. Trong số họ có vài người sắp phải mổ theo đề xuất của thầy thuốc và số khác đến Viện tôi sau khi đã mổ không thành công.

       Vì thế tôi tin chắc rằng hầu hết những bệnh đau lưng đều do chuyển lệch xương hông gây ra, và không nhất thiết phải mổ mới chữa được bệnh đau lưng. Bây giờ có bệnh nhân nói rằng: “Trước hết hãy chữa thử bằng phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông”.

        Bệnh nhân bị lệch xương hông phải cảm thấy ban đầu đau nhẹ ổ phía bên phải thân mình và rồi chứng đau mất đi một cách tự phát. Cùng có bệnh nhân đau ở phía trái thân mình, nghiêm trọng hơn vẫn là phía bên phải. Chẳng bao lâu, chứng đau lan rộng ra toàn thắt lưng và trở thành đau lưng mãn tính.

       Tùy thuộc sự co cứng khác nhau của thân thể con người, có bệnh nhân phải sau 10 chữa bằng phép trị liệu của tôi mới khỏi, nhưng cũng có người không lành bệnh, thậm trí sau 80 lần. Vì vậy, số lần chữa khác nhau được áp dụng đối với những bệnh nhân khác nhau. Trong số những bệnh nhân được tôi chữa trong 20 năm qua, chỉ có một vài người không lành sau 20 lần chữa. Nếu họ tiếp tục chữa theo phép trị liệu của tôi, tôi tin chắc họ sẽ lành.

       Để chữa bệnh đau lưng, người ta phải làm giảm căng thẳng các bắp thịt lưng và mông, chủ yếu làm giảm căng bắp thịt xương cùng-cột sống phía trên mào xương chậu, làm giảm căng các bắp thịt hình quả lê, những bắp thịt lấp trong phía trên các mấu chuyển lớn. Vì thế, người ta phải chú ý bóp nắn các phần cơ thể nói trên, chủ yếu là phía bên ngoài của xương cùng.

       Nếu có xuất hiện sự co giật cơ bắp khi bóp nắn, người chữa không được ngần ngại mà phải bóp nắn thêm 2-3 giây nữa và sự co giật sẽ mất đi.

        Bệnh đau lưng thường thấy nhất ở người lái xe, nhà thể thao, vũ công, người làm việc nặng nhọc và giáo viên.

  1. Những động tác cơ bản:

          1.1 Bóp nắn phần phía trên mấu chuyển lớn trái (xem hình 3).

          1.2. Bóp nắn phần phía trên mấu chuyển lớn phải (xem hình 80)

          1.3. Bóp nắn thắt lưng bằng lòng bàn tay.

          Người chữa cưỡi lên mông bệnh nhân và bóp nắn phía trên mào xương chậu của bệnh nhân bằng lòng bàn tay và sau đó bóp nắn mạnh các cơ bắp xương cùng – cột sống bằng hai ngón tay cái. Lặp lại động tác này 10 lần (xem hình 31).

Hình 31

  1.4. Bóp nắn phía trên mào xương chậu bằng lòng bàn tay

          Vị trí bắp đùi của người chữa cũng như ở hình 1. Người chữa trước tiên đặt hai bàn tay của mình ở phía trên mào xương chậu của bệnh nhân, tay nọ trên tay kia và sau đó bóp nắn (xem hình 32).

Hình 32

          1.5. Bóp nắn cơ bắp xương cùng – cột sống bằng đầu gối.

          Người chữa đặt hai bàn tay lên cổ tay bệnh nhân và dùng đầu gối day trên cơ bắp xương cùng – cột sống phía trên xương chậu của bệnh nhân, day 10 lần (xem hình 33).

Hình 33

1.6. Bóp nắn mấu chuyển lớn trái và phải bệnh nhân bằng đầu gối.

          Vị trí cơ bản giống như hình 33. Người chữa phải đặt hai đầu gối mình vào chỗ trên mấu chuyển lớn trái và phải của bệnh nhân và day đi day lại 10 lần(xem hình 34).

Hình 34

1.7. Chỉnh các khớp hông.

          Bệnh nhân nằm ngửa, khép hai chân và co lại. Người bệnh đặt hai bàn tay vào đúng chỗ dưới hai đầu gối của bệnh nhân (xem hình 35A), sau đó người chữa dùng sức nặng của cả thân mình đẩy mạnh hai đầu gối lên ngực bệnh nhân. Các đầu gối bệnh nhân không được chống lại sức ấn mạnh đó (xem hình 35B).

Hình 35A

H 35B

1.8. Thư giãn các khớp hông trái và phải.

          Bệnh nhân nằm ngửa và đặt hai bàn chân lên nhau. Người chữa quỳ gối trước hai bàn chân của bệnh nhân và ấn hai bắp đùi của bệnh nhân ra phía người để thư giãn các khớp.  Lặp lại động tác này 2 lần (xem hình 36).

Hình 36

1.9. Uốn cong lưng

          Bệnh nhân ngồi quỳ gối. Người chữa bệnh ngồi sau bệnh nhân luồn tay qua dưới nách bệnh nhân, ôm quanh hai vai và ép thắt lưng bệnh nhân vào hai đầu gối mình rồi từ từ ngả ra phía sau. Bệnh nhân phải thư giãn đầu và hai vai. Lúc đó, bệnh nhân có lưng hình vòng cung với hai bàn chân không cử động trên đệm (xem hình 37).

Hình 37

Các động tác triển khai:

  1. Bóp nắn vùng xương cùng.

          Người chữa ngồi như trong hình vẽ, bóp nắn xương cùng của bệnh nhân bằng hai ngón tay cái 3 lần trên 4-5 điểm. Không nên bóp nắn quá mạnh chỗ xương cụt (xem hình 38).

Hình 38

  1. Bóp nắn cơ mông trái

           Người chữa quỳ gối, hai chân đặt ở hai bên cẳng chân trái của bệnh nhân, bóp nắn cơ bắp cơ mông trái của bệnh nhân 20 lần, lúc đầu bằng ngón tay cái và sau đó bằng cả lòng bàn tay trái (xem hình 39).

Hình 39

  1. Bóp nắn cơ bắp mông phải (xem hình 79).

  2. Bóp nắn ngấn mông trái.

          Người chữa cưỡi trên cẳng chân trái và bóp nắn ngấn mông trái bệnh nhân 10 lần (xem hình 40). Xem tên gọi và vị trí của các bắp thịt mông ở hình 3.

Hình 40

  1. Bóp nắn ngấn mông phải.

  2. Bóp nắn cơ hai đầu đùi trái

          Người chữa cưỡi lên cẳng chân trái của bệnh nhân và bóp chân nắn có 4 lần bằng hai ngón tay cái ở 8 điểm của ngấn mông trái cho đến hõm khoeo chân. 8 ngón tay khác phải kết hợp với đùi để đảm bảo hiệu quả của nắn bóp (xem hình 41).

Hình 41

  1. Bóp nắn cơ hai đầu đùi phải

          Người chữa bóp nắn xương đùi phải của bệnh nhân bằng những động tác ở phần trên.

  1. Dãn đồng thời các cơ bắp phía trước cẳng chân

          Người chữa đặt hai lòng bàn chân trước của bệnh nhân trên hõm mông của họ và dùng hai tay nắm lấy các ngón chân bệnh nhân ấn nhẹ chúng xuống để đưa gót gần đến mông (xem hình 42A). Sau đó, người chữa ngả người về phía trước và bóp vào bàn chân của bệnh nhân (xem hình 42B).

Hình 42

  1. Xoay khớp xương hông trái.

          Bệnh nhân nằm ngửa. Người chữa nắm lấy đầu gối trái của bệnh nhân bằng bàn tay phải và ống chân bệnh nhân bằng bàn tay trái, ấn cẳng chân bệnh nhân ra ngoài và lên trên hai lần để uốn khớp đầu gối, uốn và xoay khớp xương hông ra ngoài và giãn khớp đầu gối 2 lần (xem hình 43).

Hình 43

  1. Xoay khớp hông phải

          Bệnh nhân nằm ngửa. Người chữa ngắm đầu gối phải của bệnh nhân bằng bàn tay trái và mắt cá chân bệnh nhân bằng bàn tay phải, ấn cẳng chân bệnh nhân ra ngoài và lên trên hai lần để uốn khớp đầu gối, uốn và xoay khớp hông ra ngoài và giãn khớp đầu gối hai lần (xem hình 44).

Hình 44

Các động tác để chữa hội chứng thần kinh và đau khớp đầu gối.

          Hội chứng bao gồm chủ yếu bệnh đau thần kinh hông và đau thần kinh đùi, đau khớp xương hông, đau khớp đầu gối, bệnh phù nề cẳng chân.

          Bệnh đau thần kinh hông là bệnh thường thấy, nó làm cho người bệnh đi lại khó khăn, nên càng đau tùy theo thời tiết. Khi trời rét các cơ bắp rút lại gây nên cơn đau. Vì vậy bệnh nhân phải giữ gìn không để lạnh, như đặt túi nước nóng trên mông và đùi khi ngủ… Khi chữa, trước tiên, là phải bình thường hóa sức nặng của thân thể để không làm căng và đau lưng, xương cùng, mông những cơ bắp sau của cẳng chân và các tổ chức liên quan. Nếu việc chỉnh lại làm quá mức thì bệnh đau thần kinh hông sẽ chuyển sang phía khác.

          Cơ bốn đùi to do những thần kinh đùi điều khiển. Khi cơ bốn đầu này bị căng bất thường thì việc duỗi đầu gối làm đau thần kinh. Nói chung, nếu phần trước của cẳng chân bị căng thì phần sau cũng bị căng. Chứng đau và chứng phù sung khớp gối xảy ra do sự căng bất thường của cơ bắp, của cẳng chân bởi sự chuyển lệch xương hông. Nếu sự căng này tập trung quanh khớp đầu gối thì người ta cảm giác đau ở đầu gối. Vì vậy, điều then chốt để chữa bệnh là làm mất đi sự căng cơ bắp quanh đầu gối. Đối với người thân thể quá nặng nề thì thường xảy ra bệnh đau khớp đầu gối và việc chữa nó đòi hỏi thời gian lâu dài hơn.

          Việc bóp nắn cơ bắp quanh đầu gối đòi hỏi người ta đặc biệt bóp nắn cơ bắp trên và dưới xương bánh chè. Nếu bệnh nhân cảm thấy đau cục bộ thì người chữa phải tiếp tục bóp nắn 2-3 giây tại chỗ đau đó. Chỗ đau này bệnh nhân phải nói ra. Sau khi chữa, bệnh nhân phải giữa không để bị lạnh.

          Người bị bệnh đau thần kinh thông thường hay phải đứng hoặc ngồi lâu trong lao động và không thích thể thao và những người lao động trong môi trường lạnh hoặc ẩm, trong lao động phải đi lại nhiều.

I. Những động tác cơ bản

  1. Bóp nắn vùng xương cùng (xem hình 38).
  2. Bóp nắn vùng trên mấu chuyển lớn trái (xem hình 3).
  3. Bóp nắn vùng trên mấu chuyển lớn phải (xem hình 80).
  4. Giãn đồng thời các cơ phía trước của cẳng chân (xem hình 42).
  5. Chỉnh các khớp xương hông (xem hình 35).
  6. Quay khớp xương hông trái (xem hình 43).
  7. Quay khớp xương hông phải (xem hình 44).
  8. Giãn và kéo cẳng chân trái.

Người chữa đặt cẳng trái của bệnh nhân lên hai đầu gối mình, dựa khuỷu tay phải vào phần trên của đầu gối đó, nắm gót bệnh nhân bằng bàn tay trái và ép những ngón chân họ vào cổ tay trái. Khi điều trị, người chữa dùng bàn tay trái kéo cẳng chân trái của bệnh nhân về phía ngực, dùng sức nặng thân mình ép khuỷu tay vào đùi bệnh nhân để giãn hoàn toàn gân gót chân. Động tác này lặp lại 3 lần (xem hình 45).

Hình 45

  1. Giãn và kéo cẳng chân phải (xem hình 88).

II. Những động tác triển khai

  1. Bóp nắn cơ mông trái (xem hình 39).
  2. Bóp nắn cơ mông phải (xem hình 79).
  3. Bóp nắn ngấn mông trái (xem hình 40).
  4. Bóp nắn ngấn mông phải (xem hình 81).
  5. Bóp nắn cơ hai đầu đùi trái (xem hình 82).
  6. Bóp nắn cơ hai đầu đùi phải (xem hình 41).
  7. Bóp nắn hõm khoeo chân trái.

Người chữa quỳ gối, đặt hai chân ở bên cẳng chân trái của bệnh nhân, bóp nắn hõm khoeo chân trái bằng lòng bàn tay hoặc ngón tay cái 10 lần (xem hình 46). Tên gọi của bắp thịt chân và phạm vi bóp nắn xem hình 41.

Hình 46

  1. Bóp nắn hõm khoeo chân phải (xem hình 83).
  2. Bóp nắn cơ ba đầu cẳng trái.

Người chữa quỳ gối, đặt hai chân ở hai bên chân trái của bệnh nhân, bóp nắn cơ ba đầu trên 8 điểm, từ hõm khoeo chân đến gót chân 4 lần (xem hình 47). Tên gọi các bắp thịt chân và phạm vi bóp nắn (xem hình 41).

Hình 47

  1. Bóp nắn cơ ba đầu cẳng phải (xem hình 84).
  2. Chỉnh các khớp mắt cá chân

Người chữa quỳ gối giữa hai chân của bệnh nhân, dùng hai bàn tay nắm lấy gót chân bệnh nhân, ấn mạnh các khớp mắt cá chân ra ngoài 2 lần (xem hình 48).

Hình 48

  1. Bóp nắn gan bàn chân.

Người chữa dùng hai tay nắm lấy hai gót chân của bệnh nhân và nóp nắn vào giữ gan bàn chân 10 lần bằng ngón tay cái (xem hình 49).

Hình 49

  1. Bóp nắn các cơ bắp xương cùng-cột sống dưới bằng đầu gối (xem hình 33).
  2. Bóp nắn các mấu chuyển lớn trái và phải bằng đầu gối (xem hình 34).

Bệnh nhân nằm ngửa. Người chữa đặt hia chân ở bên cẳng chân trái bệnh nhân và bóp nắn cơ bốn đầu 3 lần bằng hai ngón tay cái (xem hình 50).

  1. Bóp nắn cơ bốn-đầu đùi phải (xem hình 85).

Các động tác để chữa hội chứng đau đầu và nhức vai

Hội chứng đau đầu và nhức vai bao gồm nhức vai, đau đầu, nặng đầu, chóng mặt, giảm thị lực, váng đầu, sổ mũi, ngạt mũi, cứng cổ, vẹo cổ, ù tai…

Nhức vai gây ra do hiện tượng căng hoặc rắn các cơ xung quanh vai cùng với cơ hình thang và cơ hai bên cột sống mà cột sống là trung tâm. Đó là cảm giác căng thẳng và âm ỷ.

Bệnh này thường thấy ở những người mà công việc đòi hỏi thường phải nâng tay lên. Vì không phải tất cả những người làm việc như vậy đều mắc phải chứng bệnh này nên ta không thể xem bệnh chỉ do nguyên nhân này. Theo tôi, nguyên nhân gây bệnh là do chuyển lệch xương hông. Thí dụ người bị chuyển lệch xương hông phải đặt trọng lượng thân mình chủ yếu trên chân trái, hệ quả là cột sống nghiêng qua phải và vai trái trễ xuống. Khi khoảng cách từ thắt lưng đến vai dài hơn khoảng cách ở phía bên trái thì phần bên trái của thân thể tạo ra sự co mạch máu và trở ngại cho sự lưu thông máu. Khi sự lưu thông máu bị trở ngại đến mức nào thì thần kinh giữ chức năng bảo vệ cơ thể bị đau. Bởi thế những người bị chứng nhức vai không chỉ những cơ bắp xung quanh vai mà cả ở thân người và cổ đều bị căng. Nguyên nhân chính là sự chuyển lệch xương hông phải, điều này làm nảy sinh chuyển lệch thứ yếu xương hông trái và sự căng thẳng của phần trên bên phải cơ thể, lúc đó mất đi triệu chứng đau của phần trên bên phải cơ thể. Sau đó trọng lượng cơ thể chuyển đi chuyển lại từ phải sang trái và cuối cùng cả hai vai trái và phải đều đau nhức đồng thời. Nếu điều này kéo dài thì sự tê liệt thần kinh sẽ thay cho sự đau nhức.

Khi áp dụng phép trị liệu của tôi, sự đau nhức vai của thể tái phát ở những bệnh nhân trước đây bị đau vai nghiêm trọng, nhưng sau đó thì không còn nữa. Nếu họ được tiếp tục chữa theo phép trị liệu của tôi thì bệnh đau vai sẽ mất đi hoàn toàn.

Những triệu chứng đau phía trên cổ cũng có nguyên nhân. Khi chữa, người ta phải chỉnh lại sự chuyển lệch các đốt xương cổ và bóp nắn cơ ức-đòn chum và những bắp thịt cổ khác.

I. Những động tác cơ bản

  1. Chỉnh đốt sống cổ (vị trí quỳ gối).

Người chữa quỳ gối sau bệnh nhân, đặt ngón tay cái của bàn tay phải vào giữa vị trí đốt xương cổ thứ 7 (xương lồi ra nhất ở sau gáy lúc cúi đầu) và dẻ xương ngực thứ nhất của bệnh nhân, đặt cổ tay phải của mình lên vai phải của bệnh nhân và bàn tay trái lên phía bên trái đầu bệnh nhân.

Xoay đầu bệnh nhân sang phải rồi người chữa đẩy nó đột ngột xuống thấp sang vai phải. Nếu nghe tiếng kêu răng rắc tức là đốt sống đã được chỉnh lại. Tùy theo tình hình đốt xương và bắp thịt cổ bệnh nhân, người chữa có thể thay đổi hướng xoáy và lực xoay cho tự nhiên (xem hình 51).

Hình 51

 Sau đó vẫn giữ nguyên vị trí, người chữa cũng làm động tác như vậy nhưng theo hướng ngược lại (xem hình 52).

Hình 52

  1. Bóp nắn các cơ bắp phía trên xương cùng cột sống (xem hình 28).

  2. Chỉnh các đốt xương cổ (vị trí nằm).

Bệnh nhân nằm sấp, tay duỗi cong ra phía trước và quay đầu sang trái. Người chữa ấn lòng bàn tay phải vào đốt xương cổ thứ 7 của bệnh nhân, đặt bàn tay trái lên phía trái đầu bệnh nhân và ấn đầu bệnh nhân sang phải 2 lần bằng sức nặng thân mình (xem hình 53).

Hình 53

Sau đó, bệnh nhân quay đầu sang phải và người chữa cũng làm những động tác như vậy theo hướng ngược lại (xem hình 54).

Hình 54

  1. Bóp nắn cơ gối cổ phải và trái.

Người chữa ngồi trên mông bệnh nhân và bóp nắn cơ gối trái và phải ở 3 điểm 5 lần bằng ngón tay cái (xem hình 55).

Hình 55

  1. Kéo các đốt xương cổ.

Bệnh nhân nằm ngửa không gối đầu. Người chữa ngồi trước đầu bệnh nhân, hai tay giữ lấy cằm bệnh nhân rồi dùng hai bàn chân đẩy vai bệnh nhân. Trong khi đẩy chân lên vai bệnh nhân người chữa bóp kéo đầu bệnh nhân lên trên hai lần. Lực của ngón tay cái không nên quá mạnh (xem hình 56).

Hình 56

  1. Chỉnh các khớp vai

Bệnh nhân ngồi xếp gối, hai bàn tay ôm lấy xương sọ. Người chữa quỳ gối sau lưng bệnh nhân, duỗi hai bàn tay qua vai đến lưng bệnh nhân và ép các cánh tay bệnh nhân. Lúc đó bệnh nhân có cảm giác là ưỡn ngực. Lặp lại ép cánh tay hai lần (xem hình 57).

  1. Bóp nắn vùng phía trên xương bả vai

Người chữa đứng sau lưng bệnh nhân, chân dạng ra, dùng hai đầu gối ấn vào lưng bệnh nhân, đặt các bàn tay mình lên vai bệnh nhân và dùng ngón tay cái bóp nắn vùng phía trên xương bả vai bệnh nhân 5 lần (xem hình 58).

Hình 59

II. Những động tác triển khai.

  1. Bóp nắn cơ hình thang bên trái.

Người chữa cuỗi lên mông bệnh nhân, dang bàn tay trái dưới nách bệnh nhân với ngón tay cái đặt lên vai trái bệnh nhân và bàn tay phải của mình lên bắp thịt hình thang bên trái của bệnh nhân và đồng thời bóp nắn 10 lần bằng bàn tay (xem hình 59). Tên gọi và vị trí của cơ bắp vai (xem hình 28).

2. Bóp nắn cơ hình thang bên phải (xem hình 91).

3. Bóp nắn vùng phía trên hai xương bả vai (vị trí nằm).

Người chữa cưỡi gối lên thắt lưng bệnh nhân và dùng hai bàn tay nắn chỗ phía trên vai 10 lần (xem hình 60).

Hình 60

  1. Bóp nắn các cơ vai

Người chữa dùng hai bàn tay bóp nắn các cơ xương bả vai 5 lần (xem hình 61).

Hình 61

  1. Bóp nắn phần phía ngoài hành tủy

Bệnh nhân nằm sấp, đặt trán lên gối đầu. Người chữa ngồi lên thắt lưng bệnh nhân và bóp nắn vùng phía ngoài hành tủy 10 lần với những ngón tay cái đặt lên nhau (xem hình 62).

Hình 62

6. Bóp nắn cơ ức – đòn – chũm trái

Bệnh nhân nằm sấp, trán kê lên gối đầu, người chữa ngồi xổm, chân trái quỳ trên đệm và dùng ngón tay cái của bàn tay phải bóp nắn bắp thị ở ức – đòn – chũm trái của bệnh nhân 3 lần ở 5 điểm (xem hình 63)

Hình 63

7. Bóp nắn ức – đòn – chũm phải

Động tác cũng giống như trên nhưng theo hướng ngược lại (xem hình 64)

Hình 64

  1. Duỗi hai tay ra sau

Bệnh nhân ngồi xếp gối. Người chữa quỳ gối sau bệnh nhân, hai tay nắm lấy hai tay bệnh nhân kéo ra đằng sau cho đến vị trí ngang bằng rồi khép chúng lại càng gần càng tốt. Động tác lặp lại 3 lần (xem hình 65).

Hình 65

  1. Bóp nắn vị trí giữa hai xương bả vai.

Người chữa quỳ gối sau bệnh nhân, hai tay nắm lấy hai vai bệnh nhân và kéo chúng ra phía sau để căng ngực ra. Động tác lặp lại 3 lần (xem hình 66).

Hình 66

  1. Cử động lên trên và xuống dưới các khớp vai.

Người chữa nắm lấy hai vai bệnh nhân kéo chúng lên và sau đó thả chúng xuống tự nhiên. Động tác lặp lại 5 lần (xem hình 67).

Hình 67

Các động tác để chữa hội chứng tim phổi và phát phì.

Những triệu chứng bệnh chủ yếu là sưng phổi, hạ huyết áp, chứng hồi hộp, khó thở, dễ cảm lạnh, suyễn, ho,phát phì, háu ăn, táo bón, tim đập bất thường, viêm tụy, đái đường, mưng mủ chân răng và thiếu máu.

Theo tài liệu lâm sàng chủ yếu là sự chuyển lệch xương hông trái, và hai là sự chuyển lệch xương hông phải làm tăng gánh nặng cho tim phổi. Sự chuyển dịch xương hông cũng kích thích trung tâm thần kinh tiêu hóa, làm cho hệ thống tiêu hóa hoạt động quá tải và ăn ngon do đó gây ra sự phát phì.

Bệnh táo bón dễ xảy ra ở ruột Xích ma. Khúc ruột này nằm ở phía trái thân người nên bệnh táo bón chủ yếu là do chuyển lệch xương hông trái và thứ đến là do chuyển lệch xương hông phải.

Bệnh phát phì thường tăng lượng máu, và cũng tăng hooc môn để điều chỉnh lượng máu. Trạng thái này kéo dài sẽ làm cho tụy mệt mỏi và hạn chế lượng tiết dịch.

Tim và phổi là những cơ quan rất quan trọng. Điều tốt nhất là phải hoàn thành mọi động tác đã nêu để chữa bệnh. Nếu thiếu những động tác điều kiện này thì ta chỉ đạt hiệu quả nhất định theo động tác đã làm.

Trước hết, do chuyển lệch xương hông trái và thứ đến do chuyển lệch xương hông phải mà trọng lượng thân thể con người chuyển sang chân phải nên nó làm cho chân trái yếu đi. Để sửa lại tình trạng đó, ta phải chỉnh lại khớp chân trái, làm mất đi sự căng đau cơ bắp và không có biện pháp nào khác để chỉnh lại điều đó.

Khi ra chơi bóng rổ và chơi gôn, cổ tay trái giữ vai trò quan trọng. Với những người có thói quen đập bóng bằng tay phải thì họ dùng tay trái để ném bóng, điều này có thể làm cho các chức năng tim và phổi tốt lên. Ta nên luyện tập có ý thức bằng cách chơi thể thao phù hợp.

Những phương pháp sau đây phối hợp với phép trị liệu bóp nắn chống phát phì sẽ đem lại hiệu quả tốt.

  1. Nhai kĩ những thức ăn khó tiêu.
  2. Hạn chế chặt chẽ lượng thức ăn. Dân gian có câu “phát phì thậm chí không ăn” là không có cơ sở.
  3. Phải mặc ấm khi đi bộ. Vì rằng thân thể con người gồm phần lớn là nước, người ra thải một phần nước ra bằng đổ mồ hôi.

I. Những động tác cơ bản

  1. Bóp nắn cơ mông trái (xem hình 39).
  2. Bóp nắn vùng phía trên mấu chuyển bên trái (xem hình 3B).
  3. Bóp nắn ngấn mông trái (xem hình 40).
  4. Bóp nắn khoeo chân trái (xem hình 46).
  5. Bóp nắn cơ ba đầu cẳng trái (xem hình 47).
  6. Giãn các khớp hông trái và phải (xem hình 36).
  7. Xoay khớp xương hông trái (xem hình 43).
  8. Bóp nắn cơ bốn đầu đùi (xem hình 50).
  9. Bóp nắn cơ ba đầu cẳng chân.

Bệnh nhân nằm ngửa, người chữa ngồi xếp gối ở phía ngoài chân trái của bệnh nhân, đặt khoeo chân trái của bệnh nhân lên đầu gối phải của mình và bóp xoay cẳng 5 lần (xem hình 68).

  1. Bóp nắn bắp chân trái.

Vị trí của bệnh nhân và người chữa cũng như ở hình 68.

Hình 68

Người chữa bóp nắn bắp chân bệnh nhân 2 lần từ đầu gối đến mắt cá chân ở 6 điểm, chủ yếu bằng ngón tay cái và tăng sức bóp nắn khi gặp chỗ căng cơ (xem hình 69).

II. Những động tác triển khai.

  1. Chỉnh khớp ngón chân của bàn chân trái.

Người chữa đặt bàn chân trái của bệnh nhân lên hai đầu gối mình, nắm lấy hai mắt cá chân của bệnh nhân bằng tay phải và dùng bàn tay trái uốn những ngón chân của bệnh nhân xuống dưới để chỉnh các khớp (xem hình 70).

Hình 69

Hình 70

2. Đấm vào gan bàn chân trái

Vị trí của người chữa và bệnh nhân cũng như trong hình 70. Người chữa dùng bàn tay phải giữ lấy những ngón bàn chân trái của bệnh nhân rồi lấy tay trái đấm mạnh vào gan bàn chân trái của bệnh nhân 5 lần (xem hình 71).

 Hình 71: Vị trí bàn tay người chữa

3. Bóp nắn cơ hình thang bên trái (xem hình 59).
4. Bóp nắn xương bả vai trái và những cơ thắt lưng.

Bệnh nhân nằm sấp. Người chữa cưỡi lên mông bệnh nhân, bóp nắn bắp thịt xương cùng – cột sống trên cơ thăn của bệnh nhân từ bả vai trái đến thắt lưng ở 10 điểm 2 lần bằng hai bàn tay (bàn tay phải đặt trên bàn tay trái) hoặc bằng hai ngón tay cái (ngón nọ đặt lên ngón kia) (xem hình 72).

5. Bóp nắn vùng trên bả vai (vị trí nằm) xem hình 60.
6. Bóp nắn các cơ bắp vai (xem hình 61).
7. Bóp nắn bụng.

Bệnh nhân nằm ngửa. Người chữa ngồi trên đùi bệnh nhân bóp nắm bụng bệnh nhân ở vị trí 2-3cm dưới xương mẩu ức cho đến bụng dưới ở 6 điểm 3 lần bằng 2 ngón tay cái. Độ mạnh vừa phải và không được phép bóp nắn xương trên tím (xem hình 73).

8. Bóp nắn bụng dưới bằng lòng bàn tay.

Bệnh nhân nằm ngửa, co chân và để bàn chân trên đệm. Người chữa quỳ gối phía bên trái bệnh nhân và bóp đều bụng dưới bênh nhân 5 lần bằng hài lòng bàn tay, lòng bàn tay trái để trên lòng bàn tay phải (xem hình 74).

 Hình 72: Vị trí bàn tay và vùng bóp nắn

Hình 73

Hình 74: Vị trí hai lòng bàn tay đặt lên nhau

9. Bóp nắn cơ nâng bả vai trái và cơ sâu vào lưng.

Bệnh nhân nằm ngửa, quay đầu sang phải. Người chữa ngồi phía trái bệnh nhân. dùng bàn tay trái nắm lấy cổ tay trái bệnh nhân và dùng ngón tay cái của tay trái bóp nắn cơ nâng bả vai trái và cơ sâu vào lưng 10 lần (xem hình 75)

Hình 75: Tên và vị trí cơ quanh vai

10. Bóp nắn các cơ cánh tay trái.

Bệnh nhân nằm ngửa quay đầu sang phải. Người chữa ngồi bên trái bệnh nhân và dùng ngón tay cái của bàn tay trái bóp nắn các cơ bắp của cánh tay trái bệnh nhân 2 lần (xem hình 76).

Hình 76: Vị trí và phạm vi bóp nắn

11. Chỉnh khớp xương khuỷu tay trái.

Người chữa đỡ khuỷu tay trái của bệnh nhân bằng bàn tay trái, nắm lấy cổ tay trái của bệnh nhân bằng bàn tay phải (xem hình 77A), nâng
khuỷu tay trái lên và đồng thời kéo cổ tay bệnh nhân xuống bằng bàn tay phải để dãn khớp khuỷu tay (xem hình 77B). Động tác lặp lại 2 lần.

12. Chinh các khớp ngón tay của bàn tay trái.

Bệnh nhân năm ngứa, quay đầu sang phải. Người chữa ngồi ở phía trái bệnh nhân, nắm lấy cổ tay trái bệnh nhân bằng bàn tay phải, ấn chân trái vào nách bệnh nhân và dùng bàn tay trái kéo từng ngón tay của bàn tay trái bệnh nhân (xem hình 78).

Hình 78

Các động tác để chữa hội chứng của hệ thống tiêu hoá

Những triệu chứng chính là bệnh đi lỏng, từ ngực, say tàu xe, bệnh ở, ăn mất ngon, sôi bụng, nôn mửa, v,v… thường đi theo bệnh viêm dạ dày và viêm gan.

Bệnh nhân có hệ thống tiêu hoá hoạt động không tốt từ lúc còn bé phần lớn cũng bị chứng sa nội tạng.

Ta có thể khẳng định rằng chứng bệnh này được gây ra do xương hông phải bị lệch, xuất phát từ sự chuyển lệch xương của những bà mẹ.

Nếu xương hông phải bị lệch là thứ yếu thì hệ thống tiêu hoá trở nên năng động, bệnh nhân ăn ngon miệng và phát phì. Trước khi sự chuyển lệnh xương hông tiến tới giai đoạn này thì chức năng của hệ thống tiêu hoá kém đi. Dù ăn rất ngon miệng nhưng bệnh nhân không thể tiêu hoá các thức ăn và trở nên gây mòn.

Bệnh nhân từ 20 đến 40 tuổi có thể chữa lành bệnh sau 20 lần đến 30 lần chữa theo phép trị liệu hoàn chỉnh của tôi. Với người hơn 50 tuổi,
hiệu quả chữa có chậm hơn nhưng kiên trì chữa chắc chắn dạ dày sẽ chuyển về vị trí đúng đắn. Đừng nên băn khoăn nếu bệnh nhân nào đó phát phì lên trong khi chữa vì việc tiếp tục áp dụng phép trị liệu sẽ làm cho thân thể họ nhẹ nhàng lên.

Hệ thống tiêu hoá hoạt động xấu đều bị gây ra do việc chuyển lệnh xương hông phải, không để có ngoại lệ. Vì vậy, ta phải làm cho chân phải mạnh lên để nó có thể đỡ lấy trọng lương thân thể. Nếu trọng lượng chuyển sang chân phải nhưng các cơ quan chưa ôn thì điều đó  có thể là phải ứng của việc bóp nắn nói trên. Để nâng cao hiệu quả chữa bệnh, ta có thể mạnh lên lúc đâu bên chân trái và sau đó bên chân phải khi có xuất hiện những phản ứng do bóp nắn.
Gan là cơ quan lớn nhất của nội tạng. Nó ở phần lớn phía bên phải của cơ thể và có hàng trăm chức năng, trong đó, những chức năng cho
là chủ yếu là tổng hợp và giữ lại những chất bổ dưỡng tái sản sinh và khử độc là những chất thải, sản sinh và tiết ra mật. Mật do gan làm ra được dẫn qua túi mất đến phần trên tá tràng. Nếu gan không hoạt động tốt, mất tiết ra ít, chất axit do dạ dày thai ra chủ yếu là mỡ không thể tiêu hoá được và lúc đó xảy ra bệnh đi lỏng và loét tá tràng.

Hoặc xương hông phải, hoặc thứ yếu là xương hông trái bị chuyển lệch cũng đều có ảnh hưởng đến chức năng gan. Những người có gan hoạt động không tốt phần lớn tỏ ra uể oải và dễ mệt mỏi.

Những người có dạ dày, ruột và gan yếu, không nên ăn uống quá nhiều, không nên ăn nhiều vào buổi tối và ban đêm, phải tránh rượu. Tốt hơi là không nên ăn nếu không cảm thấy đói. Ngoài ra, họ phải kiêng ăn nhiều mỡ, phải ngủ tốt và không để cho mình quá mệt.
1. Những động tác cơ bản

(1) Bóp nắn các Cơ mông trai

Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên cẳng chân phải của bệnh nhân và bóp nắn các cơ mông phải của bệnh nhân 20 lần, trước hết bằng ngón tay cái và sau đó bằng lòng bàn tay phải (Xem hình 79). Tên gọi và vị trí của cơ ở mông (xem hình 3).

Hình 79

(2) Bóp nắn vùng phía trên mẫu chuyến lớn phải.

Người chữa cười đầu gối lên cẳng phải của bệnh nhân, chống bàn tay phải xuống đất và bóp nắn vùng phía trên mẫu chuyến lớn phải của bệnh nhân 25 lần bằng ngón tay cái của bàn tay trái. Nếu nhận thấy có phần cứng trên cơ bắp thì ngươi chữa phải bóp nắn cho đến khi nó dãn ra (xem hình 80). Tên gọi là vị trí các cơ ở mông (xem hình 3).


Hình 80

(3) Bóp nắn ngấn mông phải.

Người chữa quỳ gối trên cẳng chân phải của bệnh nhân và bóp nắn ngấn mông phải của bệnh nhân 10 lần bằng hai ngón tay cái (xem hình 81).

Tên và vị trí các cơ bắp chân và phạm vi bóp nắn xem hình 3A.

(4) Bóp nắn cơ hai đầu đùi phải.

Người chữa cưỡi lên cẳng phải của bệnh nhân và dùng hai ngón tay cái bóp nắn từ ngấn mông phải của bệnh nhân cho đến hõm khoeo chân ở 8 điểm. Tám ngón tay khác phải cùng bóp nắn phối hợp để đảm bảo hiệu quả bóp nắn (xem hình 81 và 82). Tên và vị trí các cơ chân và vùng nắn bóp như hình 41.

Hình 81

Hình 82

(5) Bóp nắn hõm khoeo chân phải.

Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên cẳng chân phải của bệnh nhân, và dùng lòng bàn tay hoặc hai ngón tay cái bóp nắn hõm khoeo chân phải của bệnh nhân 10 lần (xem hình 83). Tên và vị trí các cơ chân cùng phạm vi bóp nắn xem hình 41.

Hình 83

 (6) Bóp nắn cơ ba đầu của căng thành phải

Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên bàn chân phải của bệnh nhân và bóp nắn cơ ba đầu của hõm khoeo chân phải cho đến gót chân 4 lần ở 8 điểm (xem hình 84).


Hình 84

(7) Dãn các khớp xương hông trai và phải (xem hình 36).

(8) Xoay khớp xương hông phải (xem hình 44).

(9) Bóp nắn cơ bốn đầu đùi phải.

Bệnh nhân nằm ngửa. Người chưa cưỡi lên cẳng chân phải bệnh nhân và dùng hai ngón tay cái bóp nắn cơ bốn đầu ở đùi phảt bệnh nhân 3 lần (xem hình 85).

(10) Bóp nắn cơ ba đầu cẳng chân phai.

Bệnh nhân nằm ngửa. Người chưa ngồi xếp gối phía ngoài chân phải bệnh nhân, đặt cẳng chân phải bệnh nhân lên đầu gối trái của mình và xoay cẳng chân bệnh nhân. Động tác lặp lại 2 lần (xem hình 86).

 (11) Bóp nắn bắp chân phải.
Vị trí bệnh nhân và người chữa cũng giống hình 86. Người chữa bóp nắn bắp chân phải của bệnh nhân ở 6 điểm 2 lần từ đầu gối đến mắt cá chân, chủ yếu bằng hai ngón tay cái (xem hình 87). Chú ý tăng sức bóp nắn trên phần cứng của cơ bắp.
Hình 87: Vị trí các ngón tay và phạm vi bóp nắn
 (12) Duỗi và kéo cẳng chân phải.
Người chữa đặt chân phải bệnh nhân lên hai đầu gối mình, tựa khuỷu tay trái lên phía trên đầu gối bệnh nhân, nắm lấy gót chân bằng bàn tay phải và tỳ chặt các ngón chân vào cổ tay phải đó. Người chữa kéo gót chân bệnh nhân lên ngực mình và ấn đầu gối bệnh nhân bằng khuỷu tay trái nhờ trọng lượng thân mình để dãn các gân gót chân bệnh nhân. Động tác lặp lại 3 lần (xem hình 88).
Hình 88: Cách nắm gót chân phải

2. Những động tác triển khai
(1) Chỉnh các khớp ngón chân bàn chân phải.

Người chữa đặt chân phải bệnh nhân lên hai đầu gối của mình, giữ lấy mắt cá chân bệnh nhân bằng bàn tay trái và uốn các ngón chân bệnh nhân xuống thấp bằng bàn tay phải để chỉnh các khớp ngón chân (xem hình 89).


Hình 89

(2) Đấm vào gan bàn chân phải.

 Vị trí người chữa và bệnh nhân cũng như ở hình 89.

 Người chữa giữ lấy các ngón chân bàn chân phải của bệnh nhân bằng bàn tay trái và đấm mạnh vào gan bàn chân phải của bệnh nhân 5
lân bằng nắm tay phải (xem hình 90).

(3) Bóp nắn cơ hình thang bên phải

 Hình 90: Vị trí bàn tay của người chữa

Người chưa cưới lên mông bệnh nhân, đặt bàn tay phải dưới nách phải bệnh nhân, ngon tay cái nằm trên vai bệnh nhân và đặt bàn tay trái lên cơ hình thang bên phải bệnh nhân. Bằng hai bàn tay, người chữa bóp nắn bắp thịt 10 lần (xem hình 91), Tên và vị trí các cơ bắp vai xem hình 28.

Hình 91: Vị trí bàn tay người chữa

(4) Bóp nắn bả vai phải và những cơ bắp lưng.

Bệnh nhân nằm sấp. Người chữa cười lên mông bệnh nhân, bóp nắn vùng cơ xương cùng – cột sống cơ thăn từ bả vai đến xương hông 2 lần tại 10 điểm bằng hai bàn tay, tay trái trên tay phải hoặc bằng hai ngón tay cái đặt lên nhau (xem hình 92).

Hình 92: Vị trí hai bàn tay và vùng bóp nắn

(5) Bóp nắn vùng trên xương bả vai (vị trí năm) – xem hình 60

(6) Bóp nắn cơ vai (xem các hình 60 – 61).
(7) Bóp năn bụng (xem hình 73).

 Bệnh nhân nằm ngửa. Thầy thuốc ngồi trên đùi bệnh nhân bóp nắn bụng từ vị trí cách mỏ ác (ức) 2 – 3cm đến phần bụng dưới bằng ngón tay cái tại sáu điểm. Lực bấm phải nhẹ nhàng không được bấm xương trên vùng tìm.
(8) Bóp nắn bụng dưới bằng lòng bàn tay.
Bệnh nhân nằm ngửa (co hai chân, lòng bàn chân trên mặt sàn). Thầy thuốc quỳ gối bên trái bệnh nhân nhẹ nhàng bóp nắn vùng bụng dưới bệnh nhân, bốn lần bằng lòng bàn tay (tay phải đặt lên tay trái) – xem hình 74 .
(9) Bóp nắn cơ nâng bả vai và các cơ lưng sâu.
Bệnh nhân nằm ngửa, quay đầu sang trái. Người chữa ngồi phía bên phải, giữ cổ tay phải bệnh nhân bằng bàn tay trái của mình và bóp nắn cơ nâng bả vai và những cơ lưng sâu 10 lần bằng ngón tay cái của bàn tay phải (xem hình 93).
(10) Bóp nắn các cơ cánh tay phải.
Bệnh nhân nằm ngửa, quay đầu sang trái. Người chữa ngồi ở phía phải bệnh nhân và bóp nắn các cơ ở cánh tay phải bệnh nhân bằng ngón tay cái của bàn tay phải (xem hình 94).
(11) Chỉnh các khớp khuỷu tay phải.
Người chữa đỡ khuỷu tay phải bệnh nhân bằng bàn tay phải và dùng bàn tay trái giữ cổ tay phải bệnh nhân (xem hình 95A) và sau đó nâng khuỷu tay phải đồng thời kéo cổ tay bệnh nhân xuống thấp để dãn khớp khuỷu tay của bệnh nhân (xem hình 95B).

 (12) Chỉnh các khớp ngón tay của bàn tay phải.

Bệnh nhân nằm ngửa, quay đầu sang trái. Người chữa ngồi ở phía bên phải bệnh nhân, giữ cổ tay phải bệnh nhân bằng bàn tay trái của mình, ấn bàn chân phải vào nách phải của bệnh nhân và dùng bàn tay phải kéo lần lượt các ngón tay của bàn tay phải bệnh nhân (xem hình 96).

Các động tác chữa hội chứng mệt mỏi và nôn nóng

Những triệu chứng chính là dễ mệt, mệt mỏi toàn thân, nôn nóng, uể oải, buồn chán, biếng ăn, biếng ngủ…

 Việc nghỉ ngơi là rất quan trọng nhưng trong xã hội hiện đại bận rộn nhiều việc nên khó có thể nghỉ ngơi. Nếu ta cảm thấy đỡ mệt mỏi sau
một giấc ngủ ngon tức là ta khoẻ. Nếu sau giấc ngủ còn cảm thấy mệt thì ta phải tìm biện pháp chỉnh lại trong ngày hôm sau. Khi đó, phép trị liệu chỉnh xương hông có tác dụng. Sự căng thẳng vật lý phải có giới hạn. Mệt mỏi quá lâu dài sẽ gây ra sự tích hợp có hại về tinh thần và thể xác. Nguy hiểm hơn là sự mệt mỏi tỉnh thần, nó làm cho cử động của bạn chậm lại, gây cho bạn sự nôn nóng và hệ quả là gây ra tai nạn không lường trước được. Ta có thể tương tượng sẽ thiệt hại đến thế nào khi người lái xe mệt mỏi ngủ gà ngủ gật khi lái xe.

 Theo tôi, sự mệt mỏi cũng do chuyển lệnh xương hông gây ra, nó làm trở ngại sự lưu thông máu và hạn chế khả năng loại bỏ yếu tố mệt mỏi. Lúc đó việc tăng cường sức mạnh đối chân có thể làm cho sự lưu thông máu được tốt hơn, nhưng quan hơn là việc tăng cường chức năng của gan. Để hạn chế gánh nặng cho gan, ta không nên ăn qua nhiều thức ăn nhiều mỡ và không uống rượu, đừng để mình quá mệt và phải ngủ đầy đủ.

1. Những động tác cơ bản
(1) Bóp nằn vùng phía trên mấu chuyển lớn trai (xem hình 3).
(2) Bóp nắn cơ hình thang bên phải (xem hình 91).
(3) Bóp nắn cơ bả vai phải và những cơ ơ lưng (xem hình 92).
(4) Chỉnh các đốt cột sống ở cổ (vị trí nằm) xem các hình 53 và 54.
(5) Bóp nắn vùng bên ngoài hành tuỷ não (xem hình 62).
(6) Bóp nắn cơ gối trái và phải (xem hình 55).
(7) Kéo đốt sống cổ (xem hình 56).
(8) Bóp nắn bụng (xem hình 73).
(9) Bóp nắn bụng dưới bằng hai lòng bàn tay đặt lên nhau (xem hình 74)

 2. Những động tác triển khai

(1) Dãn đồng thời các cơ bắp phía trước cẳng chân (xem hình 42).

(2) Bóp nắn các cơ bắp xương cùng – cột sống trên (xem hình 28).

(3) Chỉnh các khớp xương hông (xem hình 35).

(4) Dãn các khớp xương hông trái và phải (xem hình  35).

(5) Xoay khớp xương hông trái (xem hình 43).

(6) Xoay khớp xương hông phải (xem hình 44).

(7) Dãn và kéo cẳng chân trái (xem hình 45).

(8) Dãn và kéo cẳng chân phải (xem hình 88).

Các động tác để chữa các bệnh phụ khoa

– Những hội chứng thường thấy của các bệnh phụ khoa là rong kinh, kinh nguyệt không đều, bể kính, cơ nhão, da không ăn son phấn, vô sinh, viêm bàng quang…

– Kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường của phụ nữ, tuy nhiên có một số phụ nữ thương đau nhiều ở bụng dưới và thắt lưng vào thời kỳ kinh nguyệt, làm ảnh hưởng đến lao động và học tập. Trên đây đã nêu 58% nữ sinh ở trường cấp 3 ở Nhật bị kinh nguyệt bất thường. Cần phải thấy rằng chứng đau kinh nguyệt thường xuất hiện đồng thời với những bệnh phụ khoa nào đó.

– Những phụ nữ đau kinh nguyệt và mắc những bệnh phụ khoa khác cũng thường bị chứng sa nội tạng.

– Do áp lực của sa nội tạng, sự lưu thông máu ở tử cung và những bộ phận phụ thuộc bị đảo lộn và tiếp theo đó nhiều chứng bệnh nảy sinh.

– Các bệnh phụ khoa phần lớn do sự chuyển lênh xương hông phải và thứ yếu là do sự chuyển lênh xương hồng trái gây ra. Vì vậy, điều quan trọng là tăng cường các chức năng chân phải, thư giãn các bắp thịt và các cơ có liên quan của bụng dưới bằng phương pháp bóp nắn để bình thường hoá sự lưu thông máu.

– Thân thể đứa trẻ do bố mẹ quyết định, chủ yếu do người mẹ vì chúng sống trong bụng mẹ 9 tháng 10 ngày trước khi ra đời. Để sinh đứa con khoẻ, người mẹ nhất thiết phải chỉnh xương hông. Về điểm này không có biện pháp nào hữu hiệu hơn phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông.

– Đối với phụ nữ chịu chữa 20-30 lần bằng phép trị liệu này thì không còn xuất hiện những phản ứng thai nghén. Nhờ phương pháp này, những cặp ” chông lớn tuổi, vợ sinh lần đầu cũng có thể sinh nở trơn tru, không bị mổ để lấy con ra. Phương pháp này cũng áp dụng tốt để chữa bệnh vô sinh đối với những cặp vợ chồng chữa theo phép trị liệu của tôi.

– Phụ nữ có thể chưa thể cách của tôi trong thời gian thai nghén. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi người chữa phải khéo léo và có kinh nghiệm. Phụ nữ thai nghén kiên trì chữa bệnh theo phép trị liệu của tôi sẽ không đau yếu trong lúc lao động, trong cuộc sống hàng ngày và sinh nở an toàn.

– Trẻ con sinh ra của các bà mẹ chữa theo phép trị liệu của tôi ít khi đau yếu và không khóc ban đêm.

– Khi áp dụng phép trị liệu của tôi, những phụ nữ thai nghén thường nằm nghiêng chứ không nằm sấp. Ngoài ra, người chữa không nắn bụng người chửa hoặc dùng động tác không đúng với họ.

1 Những động tác cơ bản

(1) Bóp nắn vùng xương cùng (xem hình 38).

(2) Bóp nắn các cơ mông phải (xem hình 79).

(3) Bóp nắn vùng phía trên mẫu chuyển lớn phải (xem hình 80).

(4) Bóp nắn các cơ lồng ngực và xương cung – cột sống lưng bằng hai đầu gối.

Bệnh nhân nằm sấp và duỗi cong cánh tay ra phía trước. Người chữa quỳ gối trên lưng bệnh nhân, chống các bàn tay của mình lên các bàn tay bệnh nhân và dùng đầu gối ấn vào chỗ xương bả vai cho đến xương hông ở 5 điểm (Xem hình 97).

Hình 97

(5) Ấn các xương cùng – cột sống dưới bằng đầu gối (xem hình 33).

(6) Thư giãn các khớp xương hông trái và phải (xem hình 36).

(7) Xoay khớp xương hông phải (xem hình 44).

(8) Bóp nắn dây chằng bẹn phải và cơ xương chậu.

– Bệnh nhân nằm ngửa và có chân phải. Người chữa quỳ gối, hai chân đặt hai bên đầu gối chân phải bệnh nhân và bóp nắn chúng 2 lần (xem hình 98).

Hình 98

(9) Bóp nắn cơ tứ đầu đùi phải (xem hình 85).
(10) Bóp nắn bụng (xem hình (73).
(11) Bóp nắn bụng dưới bằng hai lòng bàn tay đặt lên nhau (xem hình 74).
2. Những động tác triển khai

(1) Bóp nắn bắp chân phải (xem hình 86).
(2) Bóp nắn bắp chân phải (xem hình 87).
(3) Dãn và kéo cẳng chân phải (xem hình 88).
(4) Chỉnh các khớp xương hông, chân, bàn chân phải (xem hình 89).
(5) Bóp nắn cơ hình thang phải (xem hình 91).
(6) Bóp nắn bả vai phải và các cơ lưng (xem hình 92).
(7) Bóp nắn ngấn mông phải (xem hình 81).
(8) Bóp nắn cơ hai đầu đùi phải (xem hình 82),
(9) Bóp nắn cơ hõm khoeo chân phải (xem hình 83).
(10) Bóp nắn cơ ba đầu cẳng chân phải (xem hình 84).
(11) Bóp nắn thắt lưng bằng hai lòng bàn tay (xem hình 31).
(12) Bóp nắn vùng phía trên mào xương chậu bằng hài lòng bàn tay (xem hình 32).

Những động tác còn lại trong phép trị liệu.

Tôi đã giới thiệu nhưng đồng tác để chữa 7 hội chứng bệnh mà bạn có thể làm thử ở nhà. Nhưng như tôi đã nhiều lần nói đến, phép trị liệu này có cả thảy 100 động tác. Tốt nhất là nên làm tất cả các động tác đó trong khi chữa bệnh.

Bây giờ, tôi xin giới thiệu những đứng động tác còn lại của phép trị liệu hiệu quả của chúng chưa đạt được bằng các động tác khác. Vì vậy, ta phải lần lượt làm tất cả.
– Chắc các bạn cảm thấy khó khăn để nắm đủ 100 động tác. Nếu bạn thuộc lòng lần lượt những đặc điểm của chúng, bạn có thể nhanh, chóng nắm chắc và vận dụng chúng một cách thoải mái.

(1) Tư thế chuẩn bị

Bệnh nhân ngồi trên gót chân. Người cho quý gối phía sau bệnh nhân, dang hai chân Ôm chắc mông bệnh nhân. Bệnh nhân dang hai cánh tay ra phía sau (xem hình 99).

Hình 99

(2) Bóp nắn những cơ hình thang

Người chữa dùng hai bàn tay bóp nắn những cơ phía trên bả vai bệnh nhân 10 lần (xem hình 100).

Hình 100

(3) Bóp nắn cơ gối va cơ ức đòn chũm.

Người chưa bóp nắn các cơ này 5 lần bằng hai bàn tay (xem hình 101).

Hình 101

(4) Chỉnh các khớp mu bàn chân.

Bệnh nhân nắm sấp và giang hai chân. Người chữa quỳ giữa hai chân bệnh nhân, hai tay nắm lấy mũi bàn chân rồi đẩy ấn gót chân bệnh
vào mông họ với sức nặng cơ thế minh. Chú ý tăng thêm sức nếu gặp cản trở (xem hình 102)

(5) Chỉnh các khớp ngón chân.

Thực hiện động tác ở hình 102, người chữa đặt lại hai chân bệnh nhân ở vị trí cũ và lắc các ngón chân để chỉnh các khớp (xem hình 103).

(6) Bóp nắn vùng phía trên hai mấu chuyển lớn.

Bệnh nhân nằm sấp. Người chữa quỳ gối ở phía trái bệnh nhân và bóp nắn các cơ mông bằng hai ngón tay cái để làm dịu sự căng thẳng của cơ bắp (xem hình 104).

(7) Bóp nắn đồng thời gân gót chân trái và phải.

Bệnh nhân nằm sấp. Người chữa quỳ gối dùng lòng bàn tay bóp nắn đồng thời các gan bàn chân bệnh nhân 10 lần (xem hình 105).

(8) Bóp nắn đồng thời các bắp chân trái và phải.

Vị trí của bệnh nhân và người chữa giống như trong hình 105. Người chữa bóp nắn các bắp chân bệnh nhân đồng thời 3 lần bằng lòng bàn tay.

(9) Bóp nắn các khớp cổ tay trái và phải cùng các khớp ngón tay.

Bệnh nhân nằm sấp và dạng hai chân. Người chữa cưỡi lên mông bệnh nhân và dùng lòng bàn tay bóp nắn cổ tay và các ngón tay 5 lần (xem hình 106).

Hình 106

(10) Bóp nắn cả hai cánh tay đồng thời.

Vị trí của bệnh nhân và người chữa giống như trong hình 106.

Người chưa dùng lòng bàn tay bóp nắn cánh tay trên và cánh tay dưới bệnh nhân 3 lần (xem hình 107).

Hinh 107

(11) Bóp nắn dây chằng bẹn và cơ xương chậu chân trái.

Bệnh nhân nằm ngửa và co chân trái. Người chữa quỳ gối hai chân hai bên chân trái bệnh nhân và bóp nắn dây chằng bẹn và cơ xương chậu chân trái bệnh nhân ở 3 điểm 3 lần bằng ngón tay cái đặt lên nhau hoặc riêng lẻ (xem hình 108).

(12) Xoay bóp gân gót chân trái.
Người chữa đặt chân trái bệnh nhân trên hai đầu gối của mình, nắm lấy mắt cá chân bệnh nhân bằng bàn tay phải và những ngón chân bệnh nhân bằng bàn tay trái rồi xoay cẳng chân họ sang trái, sang phải và đồng thời bóp chúng ở phía dưới (xem hình 109).

Hình 108 – 109: Vị trí của hai ngón tay cái

 (13) Xoay bóp gân gót phải,
Những động tác trên gót phải cũng giống như hình 109.
(14) Chinh cổ tay phải.
Bệnh nhân đưa bàn tay phải ra, mu bàn tay phía trên, Người chữa dùng hai tay nắm chắc cổ tay phải của bệnh nhân và bóp nắn phía dưới
cổ tay cho đến những ngón tay (xem hình 110).

Hình 110

(15) Chỉnh cổ tay trái.
Các động tác cũng giống như ở hình 110.
(16) Bóp nắn phần trước cánh tay phải.
Người chữa nắm lấy cổ tay phải của bệnh nhân bằng bàn tay phải và bóp nắn vùng từ khuỷu tay cho đến cổ tay ở 6 điểm 3 lần bằng ngón tay cái bàn tay trái (xem hình 111).

Hình 111 : Phạm vi bóp năn
(17) Bóp nắn phần trước cánh tay trái.
Các động tác cũng giống như hình 111.
(18) Bóp nắn bàn tay phải.
Người chữa đặt ngón út của bàn tay trái mình vào giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ bàn tay phải của bệnh nhân và đặt ngón út của bàn tay phải mình vào giữa ngón tay đeo nhẫn và ngón tay út bàn tay phải của bệnh nhân với hai ngón tay cái đặt trên mô cái và mô út của bàn tay phải bệnh nhân và các ngón khác dưới mu bàn tay bệnh nhân.

Sau đó, người chữa kéo thẳng bàn tay bệnh nhận ra và bóp nắn nó từ giữa ra ngoài ở 3 điểm, mỗi điểm 5 lần bằng ngón tay cái (xem hình 112).
(19) Bóp nắn bàn tay trái.

(20) Bóp nắn gốc ngón tay cái và gốc ngon tro bàn tay phải.

Người chữa dùng ngón tay cái bàn tay phải của mình bóp nắn vùng tam giác giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ của bệnh nhân 3 lần (xem
hình 113).
(21) Bóp nắn gốc ngón tay cái và gốc ngón tay trở bàn tay trái.

Các động tác cũng giống như ở hình 113.

Hình 113

(22) Duỗi cánh tay phải và trái.

Bệnh nhân nằm ngửa và duỗi cánh tay phải lên trên. Người chữa quỳ gối ở phía bên phải bệnh nhân, đặt bàn tay phải của mình trên nách phải của bệnh nhân và dùng tay trái nắm khuỷu tay bệnh nhân rồi ấn khuỷu tay đó xuống để duỗi tay phải bệnh nhân ra hết cỡ (xem hình 114).

Các động tác để duỗi tay trái cũng giống như những động tác để duỗi tay phải.

Hình 114

(23) Bóp nắn hai bên mũi.

Bệnh nhân nằm ngửa, mặt che khăn mùi xoa. Người chữa ngồi phía trên đầu bệnh nhân và dùng hai ngón tay cái bóp nắn nhẹ nhàng hai bên mũi của bệnh nhân 3 lần (xem hình 115).

Hình 115

(24) Bóp nắn hốc mắt và thái dương.

Bệnh nhân nằm ngửa, mặt che khăn mùi xoa. Người chữa ngồi phía trên đấu bệnh nhân,  dùng hai ngón tay cái bóp nắn những phần trên và phần dưới hốc mắt và sau đó những thái dương của bệnh nhân (xem hình 116).
(25) Bóp nhân cẩu bằng hai gan bàn tay.

Bệnh nhân nằm ngửa, mặt che khăn mùi xoa. Người chữa dùng ngón tay đeo nhẫn và ngón tay út giữ chặt phần xương gò má của bệnh nhân rồi dùng hai ngón tay giữa bóp những nhãn cầu của bệnh nhân 3 lần trong khoảng 3 giây (xem hình 117).

Hình 116 – 117

 (26) Bóp nắn mặt.
Bệnh nhân nằm ngửa, mặt che bằng khăn mùi xoa. Người chữa dùng hai bàn tay chắp ngón vào nhau bóp nhẹ nhàng mặt bệnh nhân từ mũi đến mắt 3 lần (xem hình 118).

(27) Bóp nắn đường ngồi giữa trên đầu.

Bệnh nhân nằm ngửa, che mặt bằng khăn mùi xoa. Người chữa dùng hai ngón tay cái bóp nắn lướt qua đường ngồi giữa từ trán cho đến đỉnh đâu bệnh nhân (xem hình (119).

(28) Chần đấm
Ngươi chần đấm vùng phía trên xương bả vai cùng với gáy và xương châm của bệnh nhân 2 lần bằng hai bàn tay thắp ngón vào nhau (xem hình 120).

(29) chỉnh lại các đốt xương.
.
(30) Những động tác cuối cùng.

Người chưa dùng hai bàn tay bóp nắn vùng phía trên hai bả vai bệnh nhân 5 lần và sau đó chần chấm vào vai của họ (xem hình 121).

LỜI KẾT

Trong năm 1986, tổng số tiền chữa bệnh của nhân dân Nhật Bản lên cao hơn 17.000 tỷ Yên, trung bình là 140.000 Yên cho 1 người; 17.000 tỷ Yên được dùng không phải để phòng bệnh mà chỉ để chữa bệnh. Đương nhiên điều đó chưa nên xem là hoang phí nhưng con số khổng lồ đó gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ sâu sắc.

Do sự phát triển của y học hiện đại, người ta chỉ nghĩ đến đi chữa bệnh khi bị ốm đau. Điều đó đã làm nảy sinh câu nói dân gian thâm thuỷ.
“Số tiền chữa bệnh luôn luôn lớn lên như tảng băng đang lăn”.

– Khi ốm đau thì không chỉ bản thân người bệnh đau khổ mà đó còn là gánh nặng về tiền nong và tâm trí ập xuống những thành viên trong gia đình họ. làm tiêu tan cuộc sống yên tĩnh và vui vẻ, Sự mất mát đó chưa có thể thấy ngay nên không thể lường hết được.

Ai cũng muốn khoẻ mạnh và Làm thế nào chúng ta không ốm hoặc ít ốm là vấn đề rất quan trong. Để cập đến điều này, tôi nghĩ rằng chúng ta phải quan tâm nhiều hơn nữa đến cách phòng bệnh.

Theo tôi, phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là một sáng kiến để có thể đạt được hiệu quả phòng bệnh thật sự. Tôi hy vọng người ta sẽ tiến hành thực nghiệm trên cơ sở hiểu biết sâu sắc quyển sách này và sẽ hướng được thú vui sống khoẻ mạnh trong thực tiễn.
Tôi hy vọng thực thà rằng ngày càng có nhiều người quan tâm phố cập phương pháp trị liệu này và sẽ có sự tiếp xúc thường xuyên giữa họ.


PHỤ LỤC 1
HƯỚNG DẪN VỀ MÔN THỂ DỤC BÓP NĂN TỰ LUYỆN DIINO BÍCS

Chú ý :
Có thể có nhiều động tác được áp dụng cho cùng một khớp. Khi thực hiện một động tác nào đó, nếu khớp có liên quan kêu răng rắc thì khớp đó sẽ không kêu nữa khi tiếp nhận động tác khác. Những động tác để cùng hoặc để điều chỉnh những khớp liên quan được đánh dấu theo con số có dấu.

VỊ TRÍ ĐÚNG

1. Điều chỉnh các khớp vai (Hình 1)

Hai bàn chân dãn ra bằng độ rộng của hai vai. Nâng nhanh đồng thời hai vai lên.

Hình 1

Nếu có tiếng kêu răng rắn ở các khớp vai thì tinh co dãn của hai vai vào 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một khớp vai thì tính co dãn thuộc loại 2.
Trái 1, 2, 3, 4
Phải 5, 6, 7, 8

2. Điều chỉnh các đốt sống cổ (Hình 2)

Nâng vai trái đồng thời nghiêng cổ sang trái. Trước tiên làm thử động tác đó nhẹ nhàng 1 lần, sau đó làm tiếp những động tác đủ mạnh. Những động tác làm bên phải cũng thế. Nếu có tiếng răng rắc ở cả hai bên của nhiều đốt sống cổ thì tính co dãn thuộc loại cao. Nếu chỉ có
một hay hai tiếng kêu lần lượt hai bên các đốt cổ những địa cột sống thì tính co dãn thuộc loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu răng rắc một bên thì tính co dãn thuộc loại 2.

– Trái 1, 2
– Phải 3, 4

Hình 2

3. Căng và uốn các cơ bắp ở gáy (Hình 3)

Uốn cổ đến mức có thể được sang phải, hạ vai trái xuống để căng các cơ bắp trái ở gáy. Các động tác để căng các cơ bắp phải ở gáy cũng như thế. Khi nghiêng đầu sang phải, đặt tay phải lên phía trái của đầu. Khi cúi đầu ra phía trước thì đặt hai bàn tay lên xương sọ, đẩy và ép đầu ra phía trước.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 1, 2, 3, 4

Hình 3

4. Căng các cơ bắp ở gáy

Xoay đầu đến mức có thể được sang trái, sau đó sang phải.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

Hình 4

5. Xoay đầu (Hình 4)

Xoay đầu từ từ và hết cỡ, trước tiên sang trái và sau đó sang phải

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

6. Căng và điều chỉnh các khớp vai (Hình 5)

Duỗi hai bàn tay ra trước, nắm ngón tay lại, co khuỷu tay dưới 90% sau đó vùng hai cánh tay ra hai bên, giữ chúng lại trên độ cao của vai và ưỡn ngực ra. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở khớp vai, ở đốt công ngực trên hoặc xương sườn thì có tính Ca dãn ở độ cao.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

Hình 5

7. Luyện những khớp vai

 Cánh tay thẳng lên trên quay tròn. Bàn tay quay vòng ra trước và sau. Vận động tay theo chiều kim đồng hồ và theo chiều ngược lại.

– Trái 1, 2, 3, 4

– Phải 5, 6, 7, 8

8. Cẳng tay và điều chỉnh khớp vai

Đưa hai bàn tay ra phía sau, nắm lấy duỗi khuỷu tay ra hai bên. Các động tác điều chỉnh các khớp vai. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở các khớp vai , tính co dãn thuộc loại 1. Nếu chỉ có tiếng một phía thì tính co dãn thuộc loại 2.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

9. Căng các khớp vai (Hình 6)

Thư giãn tự nhiên bàn tay trái, đưa lên phía trên lưng và đồng thời duỗi bàn tay phải qua vai phải xuống lưng để cho chúng nắm lấy nhau ở trên lưng. Các động tác ở phía bên kia cũng thế. Hãy lặp lại những động tác mà ta gặp khó khăn hơn. Nếu hai bàn tay có thể nắm lấy được nhau cả hai bên thì tính co dãn của hai vai là thuộc mức độ cao. Nếu bàn tay chỉ có thể chạm được nhau thì tính co dãn thuộc loại 1. Nếu hai bàn tay chỉ chạm được một bên thì tính co dãn thu loại 2.

– Trái 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8
– Phải 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 6

10. Điều chỉnh khớp khuỷu tay (Hình 7)

Giữ lấy khuỷu tay trái bằng bàn tay phải, nângnó lên và  vây cổ tay trái ra phía trước. Sau đó nắm tay trái nhẹ nhàng, lòng bàn tay vào trong, quét cánh tay vào trong và thả rơi xuống. Những động tác cho khuỷu tay và bàn tay cũng như vậy. – Nếu có tiếng kêu răng rắc ở hai khuỷu tay thì tính có dân ở khuỷu tay vào loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một khuỷu tay thì tính co dãn vào loại 2.

– Trái: Căng 1, 2 , có 3, 4
– Phải : Căng 1, 3 ; có 3, 4


Hinh 7

11. Căng phần trước của cánh tay

Xoay lòng bàn tay trái lên trên, giữ lấy những ngón tay của bàn tay trái bằng bàn tay phải và bẻ cong chung xuống để cho phần trước của cánh tay căng ra. Cánh tay phải ngang bằng. Những động tác cho cánh tay phải cũng vậy.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

Hình 8

12. Điều hoà hai cổ tay (Hình 9)

Giữ cổ tay trái bằng bàn tay phải và vẫy mạnh. Những động tác cho bàn tay phải cũng vậy.  Nếu có tiếng kêu răng rắc ở cổ tay thì tính co dãn vào loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một cổ tay thì tính co dãn vào loại 2.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8


Hình 9

13. Điều chỉnh các khớp ngón tay (Hình 10)

Đặt các ngón tay của bàn tay trái lấy lượt vào giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa của bàn tay phải và sau đó kéo ngón tay trỏ của bàn tay trái. Các động tác của bàn tay phải cũng như vậy. Nếu có tiếng kêu răng rắc lần lượt ở 2-3 khớp của 5 ngón tay của mỗi bàn tay thì tính co dãn của các ngôn tay vào thuộc mức độ cao. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một khớp các ngón tay thì tính co dãn vào loại 1. Nếu ít nhất chỉ có một tiếng kêu ở 5 ngón tay thì tính co dãn vào loại 2. Nếu không có tiếng kêu nào từ các ngón tay thì người tập luyện không khoẻ và không sống lâu.

– Trải 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8
– Phải 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 10

14. Luyện các ngón tay (Hình 11)

Giơ hai bàn tay với những ngón xoè ra lên đầu, nắm lại rồi xoè ra nhiều lần.

4 lần 1, 2, 3, 4

Hình 11

15. Tập các ngón (Hình 12)

Thư giãn tự nhiên và giơ tay lên đầu, cong khuỷu tay một ít và sau đó vẫy, cổ tay 1, 2, 3, 4.

Hình 12

16. Căng hai cánh tay (Hình 13)

Chắp các ngón tay hai bàn tay lại với nhau, lòng bàn tay phía ngoài và sau đó nâng mạnh hai bàn tay lên để căng phía bên trong và hai cánh tay. 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 13

17.Căng và điều chỉnh phần trên hai bên thân mình và các khớp vai (Hình 14)

Giữ lấy khuỷu tay trái bằng bàn tay phải từ phía sau đầu và kéo nó sang phải với mức có thể được. Cách tập này có thể điều chỉnh vai trái và phần trên thân mình phía trái. Các động tác cho phía bên phải cũng như vậy. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở các khớp vai thì co dãn vào loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một khớp vai thì tính co dãn vào loại 2.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

Hình 14

18. Văn và điều chỉnh các khớp thắt lưng (Hình 15)

– Chuẩn bị tập : Trước hết vặn thắt lưng sang trái, sau đó sang phải và đồng thời vẫy các cánh tay.

– Tập điều chỉnh : Đặt hai bàn tay lên nhau vào trước thân mình, chuyển chân trái sang chân phải, vặn thắt lưng với mức có thể được sang phải, có sử dụng lực đẩy để thay đổi trọng tâm khi chuyển.

 Hình 15

Nếu các động tác được tiến hành mạnh mẽ, nó sẽ thư dãn các đốt sống ngực và các khớp hông Nếu có tiếng kêu răng rắc ở các đốt sống và hai bên khớp hồng thì tính cách có dán vào loại cao. Nếu chỉ nghe tiếng kêu ở một bên thì tính co dãn vào loại 1.

– Cả hai bên : Tập chuẩn bị 1, 2, 3, 4.

– Tập điều chỉnh : 5, 6, 7, 8

 19. Căng phân sau của hai chân (Hình 16)

Dang hai bàn chân bằng độ rộng của vai và củi thân mình ra phía trước cho đến khi hai bàn tay chạm phải đất (không co đầu gối). Sau đó đứng thằng người lên và ngả ra phía sau, hai bàn tay tựa vào hông trên.

– Trước 1, 2, 3, 4
– Sau 5, 6, 7, 8


Hình 16

 20. Tập khớp dầu gối (Hình 17)

Dang hai bàn chân bằng độ rộng hai vai, hai tay giữ lấy khớp đầu gối, sau đó ngồi xổm và đứng dậy 1, 2. Đếm đến 20 thì lặp lại bài tập co duỗi đầu gối nhiều lần. Co 3, 4 Duỗi 5, 6, 7, 8


Hình 17

21. Căng các khớp hông (Hình 18 A)

Dang hai bàn chân gấp đôi độ rộng của hai vai, mũi chân ra trước, sau đó xổm thấp hết mức có thể được. Lúc đó dựng thẳng lưng để khỏi ngã ra phía trước. Hai tay giữ lấy đầu gối và đẩy chúng ta ngoài đến mức có thể được để căng đầu gối.

Người giữ được lưng thẳng và dạng hại đầu gối mà có thể giữ mông đít thấp hơn đầu gối thi tính co dãn của các khớp xương hông vào loại 1.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8


Hình 18 (không nâng gót khi ngồi xổm)

22. Các phần sau của hai chân và điều chỉnh khớp hông

Đứng trên chân trái, giữ lấy mắt cá chân phải bằng bàn tay phải và nâng mạnh nó lên cao, bám vào mặt bàn hoặc vật tựa bằng bàn tay trái để giữ thăng bằng cơ thể. Chuyển trong tâm thân thể đến mức có thể được ra phía trước để căng phần sau của chân và khớp hông.

Các động tác cho phía khác cũng làm như vậy. Nếu các khớp hông co dãn và không xơ cứng và từ đó phát ra tiếng kêu răng rắc thì tính co dãn thuộc mức độ cao. Nêu chí có tiếng kêu ở một bên thì tính co dãn vào loại 1.

– Hai bên 1, 2, 3, 4

23. Căng phần sau của hai chân (Hình 19)

Dang hai bàn chân rộng hơn bề rộng hai vai đặt bàn tay lên đầu gối, co chân phải và duỗi thẳng chân trái. Bóp đầu gối trái bằng tay trái để căng nó lên. Những động tác cho phía bên kia cũng như vậy.

Hình 19

Sau đó, dang hết sức hai chân, căng lần lượt các chân. Khi làm động tác này thì với mức độ có thể phải giữ cho thân trên thẳng. Mỗi lần ngồi xổm ở mức độ thấp hơn để bắp đùi gần với đất thì hai bàn tay đặt lên nhau ở phần trên của chân duỗi thẳng để giữ cân bằng cơ thể.
Những động tác cho phía khác cũng như vậy.

– Ngồi xổm vừa 1, 2, 3, 4

24. Điều chỉnh các khớp đầu gồi và mắt cá (Hình 20)

Đứng trên chân phải, nâng chân trái lên một ít và thư dãn đầu gối trái, sau đó đá mạnh chân trái lên 3 lần tiếp theo. Người tập có thể vịn vào bàn hay vật tựa nào đó để giữ thăng bằng cơ thể. Các động tác cho chân phải cũng như vậy. Nếu có tiếng kêu răng rắc từ khớp đầu gối và mắt cá thì tính co dãn vào loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một bên thì tính co dãn vào loại 2.

– Cả hai bên 1, 2, 3, 4

Hình 20

25. Điều hoà mũi chân (Hình 21)

Đặt phần lớn trọng lượng cơ thể lên chân phải, duỗi chân trái với mũi bàn chân vào trong và nhấn mạnh nó xuống đất. Các động tác đối với chân phải cũng như vậy. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở 10 khớp của hai bàn chân thì tính co dãn của chúng ở mức độ cao, Nếu chỉ có tiếng kêu ở một số khớp của mỗi bàn chân thì tính có dẫn vào loại 1. Nếu không có tiếng kêu nào từ những ngón chân thì người tập không được khoẻ và không thể sống lâu.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

Hình 21

26. Căng bắp chân

Đứng trên mũi bàn chân, chuyển động các gót chân lên và xuống 4 lần.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

VỊ TRÍ NGÔI

27.1. Căng thẳng các khớp xương hông lưng, phía trước bắp đùi (Hình 22)

Hình 22

Dang hai chân ra tối đa, hai bàn tay chống xuống đất để lấy đỡ thân mình và lúc đó liên tục chuyển động toàn bộ cơ thể lên trên và xuống dưới để căng lưng và phần trước của hai chân.

Nếu hai chân được dãn ra đến 180% và mông đít dễ dàng chạm phải mặt đất thì tính co dãn ở mức độ cao.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

27.2. Hình 23

Dang hai chân đến mức tối đa, vặn mình sang trái trong khi đó dạng chân tối đa để căng phần sau của chân trái và phần trước của chân phải. Nếu hai chân đều có thể chạm đất thì tính có dãn vào loại cao. Các động tác khác cho phía phải cũng vậy.

– Trái 1, 2, 3, 4 ;

– Phải 5, 6, 7, 8.

Hình 23

28.1. Tiếp tục (Hình 24)

Ngồi mặt nhìn ra phía trước, dang hai chân tối đa sang hai bên, đưa hai cánh tay ra phía trước, duỗi thẳng lưng và ép ngực xuống đất để cảng cơ bắp phía bên trong hai chân và các cơ bắp đứng của thắt lưng. Tốt hơn là nên giữ mắt cá chân, bằng bàn tay để đạt hiệu quả tốt nhất.


Hình 24

Nếu hai chân dãn ra đến 180%, bụng, ngực và trán chạm phát đất thì tính co dãn ở mức độ cao.

28.2. Tiếp tục (Hình 25).

Kết thúc bài tập 28, vặn người sang trái, giữ lấy mũi chân trái hay mắt cá bằng bàn tay phải (nếu không thể được thì dựng mũi chân để cho bàn tay đưa gần đến mũi chân trong mức độ có thể được) để căng phần sau chân trái và các cơ bắp đứng của chân phải,

– Các động tác cho phía bên kia cũng như vậy.

Hình 25

Nếu hai chân dẫn đến 180%, ngực chạm bắp đùi thì tính co dãn ở mức độ cao. Nếu trán chạm mặt đất thì tính co dãn vào loại 1.

– Trái 1, 2, 3, 4
– Phải 5, 6, 7, 8

29. Tập và điều hoà các khớp xương hông, mắt cá và mũi chân

Ngồi xuống đất với chân phải hơi co, đặt bàn chân trái lên bắp đùi phải và kéo nó về phía bạn phải, sau đó ấn mạnh đầu gối trái xuống đất. Nếu đầu gối trái dễ dàng chạm đất thì tính co dãn mức độ cao (Hình 26A). – Sau đó duỗi thẳng chân phải, đặt cẳng chân trái lên bắp đùi gần đầu gối, giữ lấy mũi chân trái bằng bàn tay phải, giữ mắt cá chân trái bằng bàn tay trái và vặn chúng từ từ vào trong (Hình 26B). Những động tác cho chân phải cũng làm như  vậy và cũng làm chậm chạp với độ văn càng lớn càng tốt. Sau khi vặn hai mắt cá, có và duỗi các mũi bàn chân. Các khớp xương hông.

– Trái và phải 1, 2, 3, 4
– Vặn trái 1, 2
– Văn phải 3, 4


Hình 26

Các động tác cho hai chân đều như nhau. Nếu các ngón chân không kêu răng rắc khi tập thì người tập phải xoa bóp nhiều các ngón chân, giúp cho việc tập đạt được hiệu quả.

30.1. Tập và điều hoà các khớp mông (Hình 27)

Đặt hai bàn chân vào nhau, kéo chúng về phía bụng dưới rồi dùng hai tay ấn đầu gối xuống dưới để dạng bắp đùi rộng hơn. Nếu hai đầu gối chạm phải đất và gót chân chạm phải bụng dưới thì tính co dãn của các khớp hông thuộc mức độ cao.
1, 2, 3, 4

Hình 27

30.2. Tiếp tục

Giữ vị trí ngôi, hai bàn tay giữ lấy mũi bàn nhân, uốn mình ra phía trước, chống đứng hai khuỷu tay ở hai bên và dựng thẳng lưng, lần lượt uốn cong bụng, ngực và trán.

– Nếu hai gót chân chạm phải khớp bụng dưới và trán chạm đất thì tính co dãn của các khớp hông thuộc mức độ cao. .
1, 2, 3, 4

31. Điều hoà các đốt sống (Hình 28A)

Duỗi chân trái thẳng ra phía trước, đặt chân phải lên trên chân trái. Dừng chân phải dạy, giữ phía ngoài cẳng chân phải bằng cánh tay trái và sau đó vặn thân mình và đầu ở mức có thể sang phải và ra sau, tựa mình lên mu bàn tay phải và thẳng lưng.

– Các động tác cho phía khác cũng như vậy.

– Nếu có tiếng kêu răng rắc ở nhiều đốt sống trong khi vặn thì tính có dãn ở mức độ cao. Nếu chí có tiếng kêu ở một đốt sống thì tính co dãn vào loại 1.

– Trái 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8
– hải 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

32. Căng cơ bắp đứng và phần phía sau chân (Hình 28B)

Duỗi hai chân ra trước, với mũi chân đứng, dang thắng các khớp đầu gối, hai tay giữ lấy mũi bàn chân và sau đó ép bụng, ngực và trán lần
lượt vào hai chân, thở ra.

Nếu bụng, ngực và trán chạm đến chân với mũi chân đứng thì tính co dãn thuộc mức độ cao. Nếu hai bàn tay không thể chạm đến mũi ban chân, người luyện phải tập thường xuyên cho đến khi đạt được yêu cầu đó.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.

VỊ TRÍ NẰM

33. Căng phần phía trước thần minh (Hinh 29)

Nằm sấp, hai khuỷu tay co lại và lòng bàn tay đặt xuống đất và hai bên thân mình, ấy khuỷu tay ra phía ngoài. Sau đó uốn cổ và ngực ra sau, ngẩng cằm lên trên và căng phân phía trước của thân mình.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 29

34. Căng các cơ bắp của hai cánh tay, ngực, bụng và phần phía trước của hai chân

Nằm sấp, hai tay giữ và kéo mạnh mũi bàn chân đến mức làm cho lưng cong lại như vòng cung. Khép hai đầu gối rồi giữ nguyên vị trí này một lúc.

Nếu ngực và bắp đùi có thể rời khỏi đất và thân mình được bụng đỡ lấy thì tính co dãn của cơ bắp phần phía trước cơ thể thuộc mức độ cao,
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 30

35. Nắn mắt cá chân (Hình 31)

Ngồi trên gót chân và vặn xương hông theo chiều ngang. Nhất thiết phải giữ hông trên các gót chân.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

36. Căng phần trước thân mình và bắp đùi (Hình 32)

Vẫn ngồi trên hai gót chân, dãn hai bàn chân để hông chạm đất. Ngả đầu và mình ra phía sau cho đến đất, đỡ lấy thân mình bằng hai khuỷu tay để thực hiện điều trên được suôn sẻ và không quá mạnh. Nếu lưng chạm đất, hai đầu gối khép lại khi ngả người thì tính co dãn ở phía trước thân mình thuộc mức độ cao.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Hình 31 – Hình 32

37. Vặn các cơ bắp chiếu đứng và các cơ bắp mông lớn, điều hoà các xương hông và các khớp xương cùng (Hình 33)

Tập chuẩn bị : Nằm ngửa dang hai tay sang hai bên, co gối nấng chân lên và lật hai chân (Hình 33A). Tập điều hoà: Duỗi hai chân ra trước xuống đất, từ từ nâng chân trái lên đến 90°, co lại và cho nó ngả xuống phía phải. Khi chuyển bàn tay phải sang trái thì đồng thời quay đầu sang trái để vặn mình (Hình 33B).

– Trong khi vặn, bàn tay trái không được rời mặt đất, hai vai cũng phải nằm dưới đất. Sau đó, có chân trái và ấn nó xuống đất bằng bàn tay phải. Lúc này vặn mình sang trái theo khả năng. Các động tác cho phía khác cũng như vậy (Hình 33C).
– Nếu có tiếng kêu răng rắc ở nhiều khớp hai bên thì tính co dãn thuộc mức độ cao. Nếu có tiếng kêu ở một phía thì tính co dãn vào loại 1
– Tập chuẩn bị: Cả hai bên: 1, 2, 3, 4
– Tập điều hoà:

Trái 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8
Phải 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

38. Căng hưng (Hình 34)

Nằm ngửa, đặt hai bàn tay lên nhau, ôm và ép các đầu gối vào ngực với mức độ có thể được. Co mình và đưa trán vào giữa đầu gối.
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

39. Điển hoà các đốt sống ngự ở ngực (Hình 35)

Ngồi dưới đất, đặt hai bàn tay lên nhau và lên phần trước của cẳng chân, gần mắt cá, ngả thân mình ra phía sau. Khi nhấc hông và lưng tách khỏi mặt đất thì ôm và ép hai đầu gối vào ngực.

Nếu có tiếng kêu răng rắc ở nhiều đốt ngực thì tính cơ bản ở mức độ cao.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8


Hình 34 – Hình 35

40. Căng phần phía sau của thân mình và chân (Hình 36).

Nằm ngửa, đặt hai bàn tay hai bên thân mình, lòng bàn tay úp xuống. Đưa hai chân thẳng lên, mũi bàn chân vào trong và nâng nó vượt qua đầu cho đến khi mũi bàn chân chạm đất. Sau đó, đẩy mạnh những gót chân ra trước để căng phần phía sau của thân mình và chân.

Nếu hai đầu gối thẳng và hai mũi bàn chân chạm phải đất thì tính co dãn thuộc loại 1.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

41. Điều họà các đốt sống ngực trên (Hình 37)

Nằm ngửa, có hai chân, đặt hai bàn tay lên nhau để dưới đầu, hai tay nâng đầu lên, kéo đầu.vào hai khuỷu tay. Sau đó, ngả hai khuỷu tay ra và đưa đầu ra phía trước.

Nếu có tiếng kêu răng rắc ở nhiều đốt sống thì tính có dãn ở mức độ cao.

1. 2, 3, 4

Hình 37

42. Điều hoà các khớp hông (Hình 38)

Nằm ngửa có hai chân, dân mạnh hai đầu gối ra hai bên.

Lặp lại bài tập này nhiều lần.

Hình 38

Nếu có tiếng kêu răng rắc ở khớp hồng thì tính co dãn ở mức độ cao. Nếu chỉ có tiếng kêu một bên thì tính co dãn vào loại 1.

Vị trí sau điều hoà 1, 2, 3, 4

Động tác với chân phải cũng vậy.

43. Điều hoà các khớp cổ chân (Hình 39)

Nằm ngửa, co chân phải và đặt mu chân trái lên bắp đùi phải. Sau đó duỗi đột ngột chân trái ra để cho lực đẩy bất thân làm thư dãn hai mắt cá chân. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở hai mắt cá chân thì tính co dãn vào loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một mắt cá chân thì tính co dãn vào loại 2.

Hình 39

Tiếp tục
Vị trí sau điều hoà

Làm cho chân phải cũng như vậy

Trái 1, 2, 3, 4

Phải 1, 2, 3, 4
44. Điều hoà các khớp gối (Hình 40).

Nằm ngửa, đặt hai bàn tay ở hai bên thân mình, thư dãn đầu gối trái và nâng chân lên chút ít, đá mạnh để căng và điều hoà đầu gối. Nếu có tiếng kêu răng rắc ở hai đầu gối thì tính có dãn là loại 1. Nếu chỉ có tiếng kêu ở một đầu gối thì tính co dãn vào loại 2.

Hình 40 – 41

Chân trái và phải 1, 2, 3, 4

Vị trí sau điều hòa (co hai chân).

Các động tác cho đầu gối phải cũng như vậy.

45. Tập mũi bàn chân (Hình 42)

Chuyển động tự do đồng thời hai mũi bàn chân theo hai chiều.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

46. Vẫy chân (Hình 43)

Nằm ngửa, giờ đồng thời hai chân lên và vẫy mạnh hai bàn chân.

Hình 42 – 43

47. Càng toàn thân (Hình 44)

Năm ngửa, đặt hai bàn tay lên nhau, giờ chúng lên qua đấu xoay lòng bàn tay ra ngoài và duỗi ra đồng thời vặn hai mắt cá chân vào trong và ngoài.

Căng 1, 2, 3, 4
Vặn ra ngoài 5, 6
Vặn trong 7, 8

Hình 44

48. Vị trí thư dãn (Hình 45)

Nằm ngửa, dang hai chân bằng tầm rộng của vai và thư dãn chúng, giữ tay có gốc khoảng 30-50 độ với thân mình, lòng bàn tay quy về trên. Từ từ xoay cổ tay từ trái sang phải 8 lần. Sau đó tập thở bằng bụng và thư dãn tự nhiên hoàn toàn.

Cổ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.

Thở 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8

Giữ vị trí thư dãn và nằm yên 5 -10 phút.

Hình 45

Ghi chú:

Những hướng dẫn trong bản viết này có chỗ khác với những hướng dẫn trong bản ghi âm và môn thể dục bóp nắn tự luyện.

PHỤ LỤC 2.
(DIINO BICS)
BẢNG GHI VỀ TÍNH CO DÃN

Cách ghi:
Ghi một vòng tròn trên có đường trắng có gạch dưới mỗi lần có tiếng kêu răng rắc ở một khớp xương.

Ngày Số lượng Khớp
Vị trí
Loại Loại cao Loại 1 Loại 2
Trái Phải Trái Phải
1 Vai 17 Hai vai
2 Cổ 18 Xương sống
6 Hai vai 22 Hồng
8 Hai vai 24 Hai đầu gối
10 Hai khuỷu tay hai mắt cá
12 Hai cổ tay 25 Hai mũi bàn chân
13 Các khớp ngón tay 30 Hồng
31 Xương sống 41 Xương sống ngực (trên)
37 Các khớp xương cùng 42 Hông
39 Xương sống ngực (giữa, dưới) 43 Hai cổ chân
44 Hai đầu gối

Nếu có nhiều động tác cho cùng một khớp thi tiếng kêu răng rắc ở một động tác nào đó, cho khớp nào đó không còn xảy ra nữa ở những động tác khác (mỗi khớp chỉ kêu răng rắc có một lần thôi).

 PHỤ LỤC III.1
NẾU BẠN MUỐN KHOẺ MẠNH

Đây là một số câu hỏi chung vệ Yumeiho được TS Masayuki Saionji ngươi sáng lập ra liệu pháp Yumeiho trả lời.

1. Yumeiho là gì? Tại sao liệu pháp diệu kỳ này loại trừ được tận gốc tật bệnh?

Yumeiho có nghĩa là khởi dậy lực sống tiềm ẩn trong con người, thí dụ sự miễn dịch. Đạt được điều này bằng cách chính sự lệch xương Chậu và làm thẳng cột sống. Dùng liệu pháp Yumeiho thi sự trật khớp dần dần tại vùng hông được chỉnh lại, các cơ bắp được xoa day bấm, cấu trúc và chức năng đối xứng được lập lại trong cơ thể. Và đó là cách lý tưởng để ngăn chặn các chứng bệnh tận gốc. Và điều chắc chắn là giúp tăng cường miễn dịch.

2. Tại sao bạn phải chú ý đến khung chậu và làm thế nào để tăng cương miễn dịch.

Từ khung chậu có nguồn gốc liên quan đến cái chốt (ngõng). Khung chậu, thuộc về thuật ngữ cơ học, đó là khung ngỗng, trên đó phụ thuộc toàn bộ sự cân bằng của cơ thể. Bạn hãy quan sát bộ xương người. Mỗi xương chậu được cấu tạo bởi ba bộ phận xương nối với nhau và giữa các bộ phận này xương không thể vận động được. Khung chậu được tạo thành bởi hai xương chậu ở hai bên và xương cùng ở phía sau, bộ phận của đất sống và cột sống được đặt trên đó. Hai chân gắn vào khung chậu, phân phối áp lực không cân bằng trên đó. Như vậy, ở đa số người khung chậu không hoàn toàn ngang bằng. Điều này còn ảnh hưởng đến cơ bắp và các mạch, ảnh hưởng đến lưu thông máu và bạch huyết. Điều chỉnh lại khung chậu tạo lập lại sự đối xứng trong cơ thể, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự miễn dịch.

3. Tại sao bạn có thể nói Yumeiho là hoàn chỉnh (wholiste) trong tự nhiên?

Ông Taro Takemi, Chủ tịch Hội Y học Nhật Bản chết về bệnh ung thư. Trong tài liệu để lại ông có ghi : “Phép phân chứng là cốt lõi của y học hiện đại. Tôi nghĩ sẽ đưa lại hàng loạt vấn đề, trừ phi toàn bộ thân thể con người được coi là một thể trọn vẹn!” Y học hiện đại có thế giải quyết những vấn đề về sức khoẻ chúng ta, Viện lựa chọn các hệ thống y tế sẽ đơn giản là không có lối thoát. Nhưng bạn biết rằng số lượng các liệu pháp tăng lên hàng năm và người dân phải trả nhiều tiền hơn là Chính phủ chi cho các thầy thuốc trong việc lựa chọn các hệ thống y tế.

Trong khi y học hiện đại thử nghiệm để giải quyết các vấn đề ở mức vi mô, Thí du bằng các tìm ra cơ chế trong các tế bào và ảnh hưởng của chúng việc lựa chọn các hệ thống đi theo các cách khác nhau. Yumeiho nghĩ về mối tương hố không gian giữa các tế bào, tổ chức khác nhau về bộ xương. Tôi thừa nhận vị trí đúng cho tất cả các hệ thống lựa chọn, kế cả Yumeiho trong y học ngày nay. Bởi vì nó là cái hoàn chỉnh trong cái gần đúng.

4. Bạn có dùng các nghiên cứu của phòng thí nghiệm để quyết định cách xử lý trong liệu pháp Yumeiho không?

Trong liệu pháp Yumeiho, việc chẩn đoán có thể thực hiện chốc lát và việc xử lý có thể bắt đấu ngay. Việc mở rộng các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm ở đây nghiệm ở đây không cần. Tôi không tự ý kết ,luận là các kiểm tra của y tế ngày nay đang được thực hiện rộng rãi ở các bệnh viện và các phòng thí nghiệm đều là vô nghĩa, nhưng tôi hy vọng bạn hiểu được rằng khi chỉ tiếp tục đưa vào các kết quả xét nghiệm như vậy thì sẽ còn bị đánh lừa về bệnh tật. Nhưng lâm sàng và các nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm là cần thiết trong kiểm tra sự tiến triển của bệnh lý và việc xử lý. Do đó, tôi đề nghị trước và sau khi thực hiện hiệu pháp Yumeiho là nên làm các xét nghiệm để chứng minh cho hiệu quả của liệu pháp. Tuy nhiều người thực hành Yumeiho không cần đến kết quả xét nghiệm của phòng thí nghiệm để quyết định về quá trình xử lý.

5. Thế nào là các yếu tố của liệu pháp Yumeiho và bằng cách nào bạn phát hiện và sáng tạo chúng?

Liệu pháp Yumeiho là liệu pháp thủ công, thí dụ như không nhờ đến dụng cụ và thuốc để xử lý bệnh. Các thứ liệu pháp thủ công này có hai loại:

– Nhóm liệu pháp thứ nhất giống như phép chữa bệnh bằng cách xoa nắn các khớp và nhóm liệu pháp xương nhấn mạnh đến viêm chỉnh lại khung xương chậu.

– Nhóm liệu pháp thứ hai giống như phép ấn nắn xoa bóp chủ yếu vào các cơ bắp. Yumeiho gắn liền với một số nguyên tắc, làm cho nó có một sắc thái riêng. Trong khi phép xoa nắn khớp xương nhằm vào sự chuyển dịch cho đúng các khớp lưng và lại quên mất tầm quan trọng về độ nghiêm của xương chậu thì Yumeiho không chỉ chỉnh cho đúng sự nghiêng của xương chậu mà còn cố gắng giữ nó trong cùng một vị trí bằng cách tạo ra chức năng đối xứng trong các cơ bắp và các mô liên quan quanh khung chậu và khắp cả thân thể bằng cách xoa nắn bóp.

Trong khi phần lớn các hệ thống xoa bóp trên khắp thế giới chỉ là sự chà xát, Shiatsu là liệu pháp ấn bằng ngón tay của Nhật, cố gắng làm mạnh các cơ bắp bằng cách bấm. Yumeiho chủ trương rằng việc ấn các cơ bắp có thể tạo ra qua việc ấn bấm để cải thiện tuần hoàn máu. Như vậy, tôi gọi kỹ thuật này là phương pháp day ấn. Nó tạo ra hiệu quả hơn là chỉ xoa bóp đơn giản bằng ngón tay. Nó trả lại sự đàn hồi trong các cơ bắp.

Thầy giáo của tôi, ông Shuichi Ohno bị thu hút bởi nghệ thuật võ Chuen Fa Trung Quốc, đã sang Trung Quốc lúc 16 tuổi. Ông học về liệu pháp Thiền, là một bộ môn của nghệ thuật võ ấy. Ông ở Trung Quốc đến năm 1945. Ông học tính đa dạng của các liệu pháp, sau khi về nước ông thanh Thiền và các yếu tố của các liệu pháp khác. Qua các bài viết của ông, tôi biết về ông và hiện dâng cả tuổi trẻ của tôi để học các liệu pháp hay và những điều kỳ diệu mà ông đã học được. Trong thực hành và cải tiến sâu hơn, tôi đã đề ra một hệ thống trị liệu mới gồm 100 liệu pháp khác nhau và gọi là liệu pháp Yumeiho xương hông. Qua 20 năm, tôi đã thực hành với tỷ lệ đạt kết quả trên 95%.

6. Yumeiho có giúp gì người già với vấn đề mãn tính không?

Sự thực là các xương, cơ bắp và các chức năng khác yếu đi khi tuổi tác cao. Nhưng chớ vội đổ lỗi cho những đau đớn, gân cơ co rút và tất cả các triệu chứng khác cho tuổi già, vì người già mà kiên nhấn tiếp nhận liệu pháp Yumeiho sẽ giải thoát được hầu hết mọi triệu chứng của họ, không trữ ai. Trên thực tế người già có xu hướng hồi phục tốt hơn những người khác, vì họ có nhiều thời gian nghỉ ngơi tình dưỡng hơn. Liệu pháp Yumeiho là con đường lý tưởng của công việc chăm soc cuối cùng và nhiều người già tiếp nhận Yumeiho qua thực tế nhiều năm chứng minh là khi về với tổ tiên chết không đau đớn.

7. Yumeiho có phù hợp với cơ thể của tôi không?

Hãy để tôi giải thích thêm về những bí mật của liệu pháp. Đúng ra là trạng thái trọng lượng cơ thể bị quá tải trên từng chân gây ra sự lệch xương hông. Và kết quả là trọng lượng phải được chia đều cho hai chân. Chúng ta đứng trên hai chân, chịu trọng lực của quả đất. Như vậy, việc lệch xương hông là lẽ đương nhiên đối với mọi người chúng ta và như vậy Yumeiho thích hợp với mọi người. Châm hoặc xoa bóp bằng ngón tay, sau khi sử dụng lâu ngày có thể làm cho da chai cứng. Một số thuốc nội khoa tự nhiên hay hoá chất có thể gây quen thuốc (nhờn thuốc) hoặc có tác hại phụ, còn Yumeiho nói chung là an toàn. Tuy nhiên, một số người bệnh phàn nàn rằng tình trạng mệt mỏi của họ có chiều hướng xấu đi sau khi nhận liệu pháp Yumeiho. Tôi gọi hiện tượng này là các “phản ứng Yumeiho”.

Những phản ứng này có thể là các triệu chứng những bệnh tật đã kịch phát hoặc bề ngoài của thời gian đầu. Những phản ứng này có thể mất khi ở những người tiếp nhận Yumeiho và sức khoẻ của họ tốt lên. Những phản ứng này dễ thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh nghiêm trọng hoặc những người chữa lại bằng Yumeiho sau thời gian dài nghỉ chữa.

Nhưng những phản ứng đó chẳng có gì đáng ngại cả, vì nó sẽ mất đi trong quá trình áp dụng Yumeiho; những phản ứng này phụ thuộc vào từng cơ thể của con người và cũng khó xác định được tần số xảy ra chúng là bao nhiêu. Những phản ứng như vậy sẽ rất đi khi chữa trị. Chúng cho thầy thuốc cái mốc về trạng thái của công việc.

8. Người khoẻ có thể tiếp nhận Yumeiho được không?

Được. Tôi có thể nói một cách chắc chắn là liệu pháp Yumeiho là một bài tập vật lý ngắn. Giống như những bài tập phù hợp thông thường nhưng bạn không thể tự làm cho mình được mà phải do người khác làm cho. Một liệu pháp khi thực hiện tiêu thụ nhiều calo hơn một vận động viên chạy 1.500 mét. Người bình thường sau khi chạy 1.500 mét sẽ thở gấp, nhịp đập của tim tăng lên, nhưng sau khi tiếp nhận Yumeiho, cơ bắp sẽ mềm ra, lưu thông máu trở lại bình thường, sức khoẻ hồi phục, cơ bắp không bị căng, tim không nặng nề. Với những người đổi chứng, người tiếp nhận Yumeiho cảm thấy thoải mái, một số ngủ sâu.
Tôi có thể nói rằng Yumeiho kiểm tra trong lượng của bạn và cải thiện sức khoẻ của bạn. Bênh béo phi có thể kiểm tra được bằng một ít mộ hình và khi cột sống đã thắng khi chiều cao có thể tăng lên một số it milimet.

9. Có thể bạn muốn chúng tôi kể về một số trường hợp quan trọng mà bạn muốn biết kỹ hơn phải không?

Rất vui lòng. Xin bạn xem lịch sử tôi kể ra đây, câu chuyện mà tôi nhớ rất kỹ.
1. Bệnh nhân tên Miyataka Yoriko, nữ, 36 tuổi, Kanagawa Ken, Chigasaki, Nhật Bản đau đầu kinh niên, đau vai, đau lưng và mất khả năng sinh đẻ đã 12 năm. Trước đây, bà đến khám chữa nhiều bệnh viện mà không khỏi. Cơ bắp của bà cứng quá, chân phải dài hơn chân trái. Tôi nhìn thấy ngay là xương chậu phải bị lệch. Đây là trường hợp lệch phối hợp. Bà ta khỏi được mọi đau đớn kéo dài, trừ vô sinh. Sau cùng bà ta đề nghị nêu có thể xin chữa nốt bệnh vô sinh. Tôi tiếp tục một Số thủ pháp Yumeiho thêm 6 tháng nữa và thật bất ngờ bà ta đã chửa. Bà ta tiếp tục điều trị trước khi sinh và sau 9 tháng bà ta đẻ một bé gái nặng 3,24kg. Cả hai mẹ con đều khoẻ mạnh. Ở viện chúng tôi ảnh cháu bé kháu khỉnh và người mẹ hanh phúc còn được để lại để cám ơn chúng tôi.
2. Bệnh nhân tên là Ootomo Masu, nữ, 85 tuổi, Tokyo, Machidasi, Nhật Bản, đau ở hai chân không ngủ được, ho dai dẳng. Bà ở trong một ngột nhà cũ kỹ, cách bệnh viện chúng tôi 2 giờ tàu. Bà chịu sự đau đớn nói trên đã nhiều năm và đã chữa trị ở nhiều bệnh viện. Bà đã được châm cứu 2 năm. Khi bà đến khám bệnh ở viện chúng tôi, tôi thấy xương chậu phải của bà lệch ra 1,5cm và chân phải ngắn hơn chân trái 1cm. Tóc của bà hoàn toàn xám.
Sau 5 lần thực hiện liệu pháp Yumeiho, bệnh của bà thấy dễ chịu, sau 10 lần chữa, chân của bà giảm hẳn đau và sau 20 lần chữa ban đêm bà đã ngủ bình thường, bệnh ho hoàn toàn mất hắn. Tiếp tục chữa trị 10 lần nữa, đau đớn của bà giảm hẳn, chỉ còn tồn tại ở đôi chân. Sau 50 lần chữa, cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân đều nhận thấy tóc bà đã bắt đầu đen. Sau 6 tháng chữa trí, tóc của bà tiếp tục chuyển sang màu đen và da của bà trở nên mềm mại, mỡ màng. Đến nay bà sống hạnh phúc, ngay cả khi tuổi đã già và những người hàng xóm của bà nơi ở cũ phải ngạc nhiên tại sao bà lại trẻ ra ở tuổi này so với thời  gian trước đây. Bà đã không giấu giếm họ là được chữa trị tại bệnh viện Yumeiho Ba còn tiếp tục đến chữa ở viền tôi, mỗi tuần lễ một lần. Tôi rút ra kết luận là Yumeiho giúp ích rất nhiều cho tuổi già và bảo đảm chắc chắn là không phải dùng thuốc.
3. Bệnh nhân tên là Oshashi Wataru, nam. 62 tuổi, ở Saitama-ken, Domija-si, Nhật Bản. Ông rối loạn chức năng hệ thống tiêu hóa và ung thư gan. Người đàn ông này nghiện rượu, có hiện tượng bất thường ở dạ dày và khu vực xung quanh khi đến chữa ở bệnh viện tôi. Nhìn ông ta lờ đờ, sạm đen và không có lực. Cơ bắp ở trên bụng không bình thường, rắn như gỗ. Sau ít lần điều trị bằng Yumeiho, mắt ông ta hồng lên như trái anh đau và điều kiện nói chung của ông ta được cải thiện. Tiếp sau ông ta không chữa bằng Yumeiho nữa để đi mổ về ung thư gan. Sau khi mổ, sức khoẻ của ông ta hoàn toàn bị suy sụp. Vợ ông đề nghị tôi tiếp tục điều trị bằng Yumeiho cho ông ta. Sau 15 lần liệu trình, ông trở lại phấn khởi. Bác sĩ của ông cũng xác nhận sự hồi phục kỳ lạ của ông thật đáng ngạc nhiên. Sau 1 liệu trình nữa, ông Wataru ngừng chữa bằng Yumeiho và ít ngày sau ông ta mất. Ông chết như người đi ngủ, không bị đau đớn, vật vã, Từ trường hợp này tôi có thể rút ra kết luận là Yumeibo đã giúp cho giai đoạn cuối và khi người chết không đau đớn.
4. Bệnh nhân tên là Ishida Tokio, nam, 65 tuổi, bị bệnh đái đường đã nhiều năm và gần đây nhất, một mạch máu tim của ông bị tắc nghẽn. Trước lần tắc này, 3 mạch máu nhỏ cung cấp Oxy máu cho cơ tim đã bị tắc. Bác sĩ không thể thực hiện phẫu thuật phụ vì bệnh nhân không thể chịu đựng được. Ông đã nằm ở bệnh viện 3 tháng mà không có chuyển biến. Khi ông đến bệnh viện tôi, tôi chẩn đoán là ông bị lệch xương chậu phải 1cm. Chân phải dài hơn chân trái. Ông được điều trị hàng ngày và sau 40 lần điều trị ông đã khoẻ lại và tin tưởng. Khi ông ở bệnh viện thì không đi được, bây giờ có thể đi dạo xung quanh, miệng tươi cười. Sau 10 lần chữa tiếp bằng Yumeiho, ông có thể tự mình đi dạo chơi quanh mà không mệt. Sau khi thực hiện đầy đủ liệu trình Yumeiro, ông được kiểm tra lại trong bệnh viện hiện đại và các bác sĩ đã ngạc nhiên thấy rằng các mạch máu của ông ta ở tim đã hoàn toàn bình thường và máu được lưu thông như vậy là đã qua được
khâu phẫu thuật phu!
Thực tế tôi không thể trích dẫn tất cả các trường hợp quan trọng nhưng nhiều người ở mọi lứa tuổi đã tránh khỏi được những đau đớn, bệnh tật và các triệu chứng khác nhau khi nhận được liệu pháp Yumeiho ở viện tội.

Thế các bác sĩ nói gì?

Nhiều thầy thuốc đang hành nghề y tế và các bệnh viện khắp thế giới đã sử dụng Yumeiho hàng ngay. Ở một số quốc gia như Nga, Ba Lan… đã trở thành bộ phận chính thức thực hành Yumeiho hàng ngày. Chúng tôi xin gửi bạn một số báo cáo, ghi chép tốt của họ về Yurneiho.
Chẩn đoán và xử lý bệnh không dùng thuốc của Saionji
Bác sĩ A.P.Kozlowski.
Ngành y tế Nga đã được tăng cường phong phú những điều mới lạ từ phương Đông đến. Chắc chắn không phải tất cả những điều mới lạ đó đều có cơ sở khoa học và có hiệu quả lý tưởng. Tuy nhiên, phương pháp do ông Saionji Masayuki, người lãnh đạo Học viện Quốc tế Phòng bệnh Tokyo khởi xướng đã cuốn hút sự chú ý ngay lập tức của nhiều nhà vật lý thực hành.

Phương pháp của ông Saionji dựa vào việc sử dụng sự phụ thuộc giữa các hệ thống điều chỉnh trong các chức năng sống của tổ chức và phạm vị thay đổi vị trí của xương chậu và cột sống. Nói một cách hình ảnh khung chậu là cái móng và cột sống là toà nhà. Sự biến dạng nhỏ nhất theo chiều thẳng xảy ra ở móng công trình xây dựng có thể gây nứt tường và trong điều kiện đặc biệt có thể làm toà nhà bị đổ. Tương tự như toà nhà, nếu xảy ra xê dịch vị trí ở khung xương chậu thì không thể tránh khỏi làm cong cột sống và đương nhiên lần lượt làm va chạm hệ thống thần kinh thực vật, chức năng tuần hoàn và trương lực cơ bắp.
Trong đó nhằm vào tình trạng rối loạn điều kiện chức năng của cơ quan (somatic) và sự phân bố thần kinh thực vật tại điểm sẹo sẽ kích thích những phản ứng trả đũa từ các cơ cấu phân phối thần kinh. Trong điều kiện này các tật bệnh khác nhau từ viêm xương sụn (osteochondrosis) dẫn tới loét dạ dày hoặc ngay cả ung thư bắt đầu phát triển. Tư tưởng chính của Saionji là phòng sự lệch xương hông và cong cột sống và nếu những dấu hiệu này xuất hiện thì cách chỉnh cho đúng có thể làm được bằng phương pháp thủ công. Đặc biệt quan trọng nhất của phương pháp Saionji còn là sự cưỡng bức các khớp nối giữa đốt sống cơ bắp và các dây chằng (gần). Sự cưỡng bức đối với cơ bắp, các khớp nối và dây chằng của các đầu còn trực tiếp đến các cơ quan nội tại. Vì mục đích này cho các phương pháp đặc biệt về bấm nắn, một số yếu tố của liệu pháp Shiatsu và của Xoa bóp cổ điển đã được kết hợp lại.
Như vậy, vấn đề phức tạp trong việc loại trừ nguyên nhân ban đầu của tật trong dạng quan hệ giải phẫu đúng về xương hông và cột sống đã được giải quyết và sự hoạt động của các cơ chế điều hoà các tổ chức và chức năng của các hệ thống trên tiết đoạn và mức độ cùng được thực hiện. Liệu trình xử lý đòi hỏi phải thực hiện mọi cách của phương pháp Saionji và nhấn mạnh đến các tương ứng về dạng và quy mô của sự sai lệch xương hông và cột sống tại một số tiết đoạn và tổ chức liên quan. Có thể thấy rằng phương pháp của Saionji là liệu pháp thủ công trong nghĩa thông thường của từ này. Nhưng sự khác nhau chính là trong quan niệm của sự liên quan giữa xương hông và cột sống. Các thầy thuốc đang hành nghề thủ công thường giải quyết vấn đề cô lập của sự phục hồi quan hệ giải phẫu thông thường giữa
các đốt xương sống tại vùng bệnh biểu lộ sự không chú ý đến việc điều hoà các hệ thống bằng các xoa bóp cưỡng bức.
Phương pháp không chỉ đơn thuần là kỹ thuật xử lý và phòng bệnh mà còn là chấn đoán. Về phép chẩn đoán này cũng rất đặc biệt : Nó không nhằm đạt tới việc chẩn đoán cuối cùng mà khám phá các triệu chứng trực tiếp và gián tiếp do sự thay đổi vị trí của xương chậu và cột sống. Phương pháp này đã được xác nhận lâm sàng tại Bệnh viện nghiên cứu khoa học Hàng không quân sự Trung ương năm 1992 và trong quy trình xác nhận hiệu quả của nó trong phục hồi và xử lý phòng bệnh cho phi công và các nhà du hành vũ trụ xác nhận. Theo số liệu nhận được từ Bệnh viện Trung tâm của Bộ nội vụ Nga. Phương pháp của Saionji rất có hiệu quả trong việc xử lý các bệnh như viêm loét dạ dày và tá tràng, sỏi thận và bất bình thường về hệ thống tuần hoàn. Công việc của các bác sĩ… Chumakov có sức thuyết phục về vấn đề này.

Ông Maciej Dluski, nhà trị liệu Yumeiho BaLan báo cáo

Một cháu bé 9 tuổi bị phẫu thuật khớp hồng do cấu tạo không đúng ở đầu xương đùi và khớp. Sau ca phẫu thuật cậu bé được điều trị bằng liệu pháp Yumeiho, mỗi tuần lễ hai lần trong hai năm.Với phép chữa vi lượng và sự chăm sóc chu đáo của bố mẹ. Đến nay cháu đã khoẻ mạnh bình thường, Dưới đây là hai kết quả X-quang cho thấy sự tiến bộ từ khi phẫu thuật đến nay.
Sơ đồ X-quang
Trong một nghiên cứu tại Bệnh viện Hàng không Matxcova người ta đã khẳng định rằng Yumeiho có hiệu quả trong việc bình thường hoá các chức năng của hệ thống mạch tim, đặc biệt là ở những bệnh nhân rối loạn tuần hoàn thần kinh (NCD). 17 bệnh nhân, nam tuổi khoảng 30 bị NCD điều trị thử nghiệm. Chức năng của hệ thống tim mạch được đánh giá bằng chỉ số thực vật kedro và phân tích toán học của nhịp tim. Nhịp tim và áp huyết được ghi trên các điều kiện trong đối tĩnh. Nhịp tim được đánh giá nhờ trợ giúp của chỉ số chương trình tự động tỉ mỉ.
Trong khi phân tích về số liệu của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy rằng trong các điều kiện tương đối tĩnh, những bệnh nhân đã dịu đi sự căng thẳng chức năng của cơ chế điều hoà nhịp tim. Sự minh chứng này thường xảy ra của ảnh hưởng thần kinh giao cảm trên sự điều hoà hệ thống tim mạch. Liệu pháp Yumeiho áp dụng trong vòng từ 7 đến 10 ngày tỏ ra sự kết quả chức năng dương giảm đi của sự căng chức năng nhịp tim cơ chế điều hoà. Các triệu chứng chủ quan giống như đau nhói ở vùng tim, mệt mỏi hết đi sau 2 hay 3 lần chữa.
Nhiều thí nghiệm cũng được thực hiện để thấy sự can thiệp của Yumeiho trong rối loạn tuyến nội tiết như đái đường, kết quả cũng đáng khích lệ. Chúng tôi còn chờ các báo cáo từ nhiều bệnh viện trên khắp thế giới.
NGUYỄN KHẮC MINH
Dịch từ bản tiếng Anh

PHỤ LỤC III.2

sở Y TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 

VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC

BÁO CÁO SƠ KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

THEO DÕI TÁC DỤNG GIẢM ĐAU BẰNG LIỆU PHÁP YUMEIHO

TRONG ĐAU THẦN KINH TOẠ DO THOÁI HOÁ CỘT SỐNG

I. ĐẶT VẤN ĐỀ – MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

 Đau thần kinh toạ là một bệnh phổ biến do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, chủ yếu là do cột sống mà bệnh lý chính là thoái hoá
cột sống và đĩa đệm.
Triệu chứng lâm sàng tương đối rõ với đau là triệu chứng nổi bật nhất, làm cản trở trầm trọng lao động. Do đó, trước một bệnh nhân đau thần kinh toạ, giải quyết chứng đau là ưu tiên nhất. Để giảm đau, ta có thể dùng thuốc hay không dùng thuốc. Trong phương pháp không dùng thuốc thì thủ thuật lên cột sống là quan trọng nhất, nhằm giải phóng chèn ép thần kinh toạ. Một trong các phương pháp này là phương pháp Yumeiho đã được Viên Y dược học Dân tộc thành phố Hồ Chí Minh thực hiện. Đặc điểm của phương pháp này là tác động trực tiếp lên cột sống để giải quyết nhiều chứng bệnh có liên quan đến cột sống. Nhóm nghiên cứu đã đề xuất sử dụng phương pháp Yumeiho để giảm đau cho bệnh nhân thần kinh toạ do thoái hoá cột sống, góp phần đánh giá phương pháp này cũng như góp thêm dữ kiện cho phương pháp Yumeiho mỗi ngày thêm phong phú, đầy đủ hơn.

II. SINH LÝ BỆNH HỌC CỦA ĐAU THẦN KINH TOẠ DO THOÁI HOÁ CỘT SỐNG

1. Giải phẫu – sinh lý thần kinh toạ
Dây thần kinh toạ là một dây to và dài nhất trong thân người, được tạo nên bởi đám rối cùng, đám rối này gồm có thân thắt lưng cùng (do các dây sống thắt lưng thứ 5 nối với dây thắt lưng thứ 4) và 3 dây (cùng 1, cùng 2, cùng 3).
Dây thần kinh hông to sau khi ở chậu hông chạy ra, nằm dưới cơ tháp, giữa cơ mông to ở phía sau và các cơ sinh đôi, cơ vuông đùi, cơ bịt ở phía trước. Dây hông to chạy chính giữa đùi sau, xuống khoeo chân và chia làm 2 ngành:
– Dây thần kinh hồng khoeo ngoài vận động các cơ duỗi ngón chân và gấp bàn chân (các cơ cẳng chân trước ngoài, cơ mu chân) và là dây cảm giác của cẳng chân trước ngoài, mắt cá chân, mu bàn chân.
– Dây thần kinh hông khoeo trong (dây thần kinh chày) vận động các cơ gấp ngón chân, duỗi bàn chân ở cẳng chân sau và gan chân, là dây cảm giác của cẳng chân sau, gan chân.
2 Thoái hoá cột sống
a. Giải phẫu cột sống :
– Cột sống có 33 đốt sống gồm 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống thắt lưng, 5 đốt sống cùng dính liền nhau và 4 đốt sống cụt.
– Trừ đốt sống cổ thứ nhất và thứ hai, các đốt sống cùng cụt, các đốt sống được dẫn cách nhau bởi một cấu trúc linh động gọi là đĩa đệm. Có 23 đĩa đệm liên sống với chiều cao cộng lại chiếm 1/4 – 1/5 chiều cao của cột sống.
– Đĩa đệm cấu tạo bởi nhân nhầy ở giữa và vòng sợi bao quanh.
b. Thoái hoá cột sống (còn gọi là hư khớp):
1. Định nghĩa :
Hư khớp hay thoái hoá khớp là những bệnh của khớp và cột sống mãn tính, đau và biến dạng, không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hoá của sụn khớp và đĩa đệm (ở cột sống) những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch.
b. 2. Nguyên nhân:
– Nguyên phát : Lão hoá, trên 60 tuổi, bệnh diễn biến chậm, không nặng.
– Thứ phát : Do cơ học trên, bệnh nhân trẻ dưới 40 tuổi, do các nguyên nhân quá tải làm thúc đẩy quá trình thoái hoá (dị dạng, sau chấn thương, tăng tải trọng do nghề nghiệp, tư thế sai, béo).
b. 3. Bệnh lý đĩa đệm (hư đĩa đệm – discarthrose): là bệnh lý chủ yếu của thoái hoá cột sống sẽ gây nên biểu hiện lâm sàng : đau lưng cấp, đau lưng mạn và đau thắt lưng hông.
b. 4. Giải phẫu bệnh lý
– Bình thường sụn khớp và đĩa đệm có màu trắng ánh xanh, nhẵn bóng, ướt, rất cứng và đàn hối mạnh, thành phần cấu tạo gồm các tế bào sụn, các sợi colagen và các chất cơ bản.
– Các tế bào với số lượng, có nhiệm vụ tổng hợp các sợi colagen và các chất cơ bản có đặc tính hút và giữ nước rất mạnh, có tác dụng điều chỉnh sự đàn hồi và chịu lực của đĩa đệm và sụn khớp.
 – Khi bị tổn thương thoái hoá, sụn khớp và đĩa đệm có màu vàng nhạt, mờ đục, khô mềm, mất dần tính đàn hồi, mỏng nứt rạn. Những thay
đổi giải phẫu bệnh này được thể hiện trên hình ảnh X-quang của hư khớp.
b. 5. X-quang
3 dấu hiệu cơ bản là hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, gai xương. Nếu chụp CT hay MRI sẽ thấy các bệnh lý rõ ràng và chi tiết hơn (sa đĩa đệm).
2. Cơ chế đau thần kinh toạ
Sinh lý bệnh của đau thần kinh toạ vẫn chưa được hiểu đầy đủ, mặc dù sự hiểu biết về nguyên nhân sinh bệnh đang gia tăng. Các thay đổi cơ học kết hợp với các biến đổi do viêm dẫn đến gây đau. Áp lực làm thay đổi dẫn truyền rễ thần kinh và kếp hợp với yếu tố dinh dưỡng của các rễ dây thần kinh sống.

III. CHẨN ĐOÁN ĐAU THẦN KINH TOẠ DO THOÁI HOÁ CỘT SỐNG (CHỦ YẾU BỆNH LÝ ĐĨA ĐỆM)

A. Lâm sàng
a Biểu hiện ở hai nội dung:
1. Hội chứng đau rễ thần kinh :
– Đau lần đầu, hay tái phát.
– Có đau lưng trước đau thần kinh toạ, đau lan theo rễ thần kinh hồng.
– Đau tăng khi đi đứng, thay đổi tư thế, hắt hơi, ho, rặn.
– Khám :
+ Ân đau vùng thắt lưng (điểm đau cạnh cột sống) và lan truyền (dấu hiệu dây chuông), lan xuống mông, mặt sau đùi, nếu là rễ L5 tiếp tục
lan xuống mặt ngoài cẳng chân, lưng bàn chân, ngón cái : nếu là rễ S1, tiếp tục lan xuống mặt sau cẳng chân, gót, lòng bàn chân, phản xạ gót giảm hay mất hẳn.
+ Dấu hiệu Lasège dương tính.
+ Trương lực cơ giảm, teo cơ.
2. Hội chứng cột sống
– Biến dạng cột sống (vẹo, lệch, ưỡn quá mức).
– Có các điểm đau cột sống (ấn các mỏm gai):
+ Nghiêng cột sống về phía bệnh nhân xuất hiện ngay.
+ Tăng khoảng cách mặt đất – ngón tay khi cúi lưng.
+ Có tư thế chống đau (co thắt cơ lưng, lệch vẹo cột sống khi đứng hay cúi).

B. Cận lâm sàng

– X – quang cột sống lưng có thể thấy:
+ Tam chứng Barr (vẹo cột sống, mất ưỡn thắt lưng, hẹp đĩa đệm) khiến nghĩa đến thoái vị đĩa đệm.
+ Gai xưởng, loãng xương.
– CT hay MRI đánh giá các hình thái bệnh
lý của đĩa đệm và đốt sống.

IV. LIỆU PHÁP YUMEIHO
A. Nguồn gốc
Phương pháp Yumeiho còn có tên là “Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông”, tác giả Masayuki Saionji, người Nhật, là Giám đốc Học viện Quốc tế về Phòng bệnh Tokyo. Phương pháp này đã được hướng dẫn tại Viện Y dược học Dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 1994 với gần 50 học viên gồm các bác sĩ, y sĩ, lương y, kỹ thuật viên dưỡng sinh tích cực và ứng dụng rộng rãi trong và ngoài viện.

B. Tác dụng

Liệu pháp Yumeiho là một phương pháp xoa bóp (massage). Do đó có tác dụng vật lý của xoa bóp nói chung và tác dụng đặc biệt chỉnh xương hồng và cột sống:
1. Tác dụng vật lý
Làm lưu thông khí huyết tốt hơn, giảm ứ trệ, do đó giải quyết được nhanh chóng chứng đau và tế, thông tắc bất thống, thống tắc bất thông”, tăng cường dinh dưỡng, thúc đẩy hoạt động các cơ quan, tạo các phản xạ chống co thắt.
2. Tác dụng chỉnh cột sống và xương hông

– Liệu pháp Yumeiho có thể ở một mức độ nào đó có thể giải quyết sự chèn ép rễ thần kinh nên có tác dụng giảm đau nhanh và mạnh.
C. Các thủ thuật dùng trong đau thần kinh toạ do thoái hoá cột sống

Toàn bộ phương pháp Yumeiho có 100 thủ thuật, trong đó các thủ thuật được sử dụng để điều trị chứng đau gồm có:
1. Xoa miết dọc hai cột sống
2. Ân dọc hai bên cột sống
3. Xoa sát vùng thắt lưng và mông
4. Ấn mông (dùng ngón cái là chủ yếu, dùng cùi chỏ khi cơ mông quá dày).
5. Ẩn day nếp mông.
6. Ấn mặt sau đùi, cẳng chân
7. Bóp day bắp chuối và gân Achille.
8. Kéo dãn chân và cột sống.
9. Vặn cột sống lưng.
10. Vận động khớp hồng.
11. Day mặt bên cẳng chân.
12. Đấm lòng bàn chân.

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp : Theo dõi và đánh giá bằng triệu chứng, lâm sàng.
2. Đối tượng : Số bệnh nhân đến khám ngoại trú được chẩn đoán là đau thần kinh toạ, tuổi 20 – 80. Sau đó được chẩn đoán dương tính (đau thần kinh toạ do thoái hoá cột sống) và loại đau thần kinh toạ do những nguyên nhân khác (u bướu, chèn ép tại tiểu khung…).
3. Chỉ tiêu theo dõi : Theo dõi đánh giá tác dụng của liệu pháp Yumeiho trên:
– Triệu chứng đau là chính, tê, mỏi…
– Thay đổi của dấu hiệu Lasege.
4. Tiến hành cụ thể :
– Bệnh nhân được chọn chám và điều trị và khoa huấn luyện (phòng khám Viên Y dược – Dân tộc).
 – Làm bệnh án theo mẫu thống nhất của Viện.
– Xét nghiệm thường quy(máu, nước tiểu,X – quang cột sống, ECG, siêu âm bụng tổng quát).
– Phương pháp : Dựa vào lời khai chủ quan của bệnh nhân, tham khảo các dấu chứng lâm sàng, đồng thời ghi nhận bằng “thang nhìn”, mỗi triệu chứng chức năng của bệnh nhân được đánh giá theo thang nhìn như sau:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Nhóm nghiên cứ giải thích cho bệnh nhân các triệu chứng trước khi làm thủ thuật theo thang nhìn là 10, sau mỗi lần làm thủ thuật và khi kết
thúc điều trị, bệnh nhân sẽ tự đánh giá vào thang về mức độ giảm bớt của triệu chứng.
Mức đánh giá :
A (giảm nhiều): Mức độ thang nhìn còn 0 – 3
B (giảm khá): Mức độ thang nhìn còn 4 – 5
C (giảm ít): Mức độ thang nhìn còn 6 – 8
D (không giảm) : Mức độ thang nhìn còn 9 – 10 hay đau hơn.

VI. KẾT QUẢ LÂM SÀNG (THỰC HIỆN 5/7/1996 – 3/12/1996)

A. Số liệu chung

1. Số lượng bệnh nhân: 53
2. Giới tính: năm 28, nữ 26
3. Độ tuổi :
20 – 30: 15 bệnh nhân
31 – 40: 16 bệnh nhân
41 – 50: 5 bệnh nhân
51 – 60: 5 bệnh nhân
60 trở lên: 12 bệnh nhân
4. Nghề nghiệp
Ở các bệnh nhân trẻ, đo số lao động chân tay nặng hay có tiền sử lao động nặng nhọc, chấn thương cột sống nhẹ.
5. Thời gian mắc bệnh.
Dưới 1 tuần: 15 bệnh nhân.
1 – 2 tuần: 13 bệnh nhân.
3 – 4 tuần: 5 bệnh nhân.
1 tháng trở lên: 20 bệnh nhân.
6. Chẩn đoán lâm sàng:
– Đau một bên: 52 bệnh nhân
+ Đau L5: 15 bệnh nhân
+ Đau S1: 37 bệnh nhân
– Đau hai bên: 1 bệnh nhân
– Đau bên trái: 32 bệnh nhân
– Đau bên phải: 21 bệnh nhân
7. X-quang: Thoát hoá cột sống mức độ nhẹ đến nặng, dị dạng cột sống.
8. Chẩn đoán Y học Dân tộc
a. Theo 5 gốc rễ: Đa số tinh suy
b. Theo 5 cơ năng phổ biến:
– Dương hoả vượng: 10 bệnh nhân
– Âm thuỷ vượng: 2 bệnh nhân
– Âm hoả suy: 10 bệnh nhân
– Dương thuỷ suy: 25 bệnh nhân
9. Thời gian điều trị:
Số lần nắn chỉnh cột sống
1 lần: Không tính vào kết quả đề tài vì không theo dõi.
2 lần: 14 bệnh nhân bị
3 – 5 lần: 12 bệnh nhân ở
6 – 10 lần: 12 bệnh nhân
10 lần trở lên: 15 bệnh nhân
10. Khó khăn và thuận lợi : Khi thực hiện để tài trên bệnh nhân ngoại trú.
a. Thuận lợi: Số lượng bệnh nhân phong phú, bệnh tương đối không nặng, mới mắc.
b. Khó khăn:
– Thời gian thăm khám bệnh có giới hạn, không thể khám thật kỹ càng.
– Không theo dõi sát được diễn biến bệnh (bệnh nhân không đi khám vì nhiều lý do).
– Bệnh nhân đi lại nhiều làm ảnh hưởng đến diễn biến bệnh (đi lại làm đau tăng, nhất là lên xuống cầu thang khiến bệnh nhân ngại tái khám).
– Hiếm bệnh nhân đau dữ dội cấp tính (bệnh nhân thường được chuyển vào nội trú) mà liệu pháp Yumeiho có thể làm giảm đau rõ rệt.
– Bệnh nhân thường không thực hiện đầy đủ các yêu cầu trị bệnh của bác sĩ (thí dụ nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường, tập luyện thường xuyên) vì còn phải tiếp tục đi làm, lao động.

B. Kết quả
Kết hợp thang nhìn và các dấu chứng lâm sàng khác để đánh giá tác dụng giảm đau.

1. Tác dụng tức thời sau khi tác động lân thứ nhất:
Mức A: 14/53 bệnh nhân (26,4%).
Mức B: 16/53 bệnh nhân (30,2%).
Mức C: 15/53 bệnh nhân (28,3%).
Mức D: 8/53 bệnh nhân (15,1%).
2. Kết quả khi xuất hiện (bệnh nhân không còn tái khám nữa).
Mức A: 14/53 bệnh nhân (26,4%).
Mức B: 20/53 bệnh nhân (37,8%).
Mức C: 12/53 bệnh nhân (13,2%)
Mức D: 12/53 (22,6%) – bỏ dở điều trị.
– Kết quả này là tổng hợp nhiều phương pháp trị liệu (thuốc bổ, nghỉ ngơi, vật lý trị liệu).

C. Phản ứng phụ:

Chưa thấy.

D. Vài trường hợp điển hình

1. Nguyễn Thị Nga, 26 tuổi, vận động viên, số hồ sơ 1768, vào viện ngày 5 – 7 – 1996, đau thần kinh toạ phải S1, 7 ngày, trước khi vào viện đã điều trị rất nhiều thuốc tây (uống, chích) không giảm, có vẻ đau đớn, khó chịu trong người, X-quang: thoái hoá cột sống mới chớm gai nhỏ. Sau khi làm thủ thuật lần đầu đau giảm hẳn, thang nhìn còn 3/10, đêm đó ngủ được sau một tuần thức trắng
2. Hình Thị Sanh, 68 tuổi, số hồ sơ 1792, vào viện ngày 9-7-1996, chẩn đoán đau thần kinh tọa hai bên si/thần kinh toạ/thiếu máu cơ tim, đau nhiều, buốt nóng cả lưng và hai chân, cảm giác giật hai chân khi chuyển mình. Sau khi làm thủ thuật lần đầu, giật giảm 5/10, đau giảm 8/10, đêm ngủ ngon, không đau.
3. Hồ Chí Bình, 43 tuổi, đau thần kinh toạ S1/thoái hoá cột sống 2 tuần, đi cà nhắc, đau nhiều. Sau khi làm thủ thuật lần thứ nhất, đau giảm
7/10, đi thẳng lại.

VII. BÀN LUẬN

1. Tác động trực tiếp lên cột sống nhằm giải quyết chèn ép rễ thần kinh đã được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau (Tây y lẫn Đông y ; Tây y có kéo dãn cột sống bằng đeo tạ ; Y học cổ truyền Trung Quốc có phương pháp cõng bệnh nhân trên lưng, dùng sức nặng của chính bệnh nhân để kéo dãn cột sống). Phương pháp Yumeiho Xoa bóp đặc biệt để chỉnh xương hông và cột sống nhằm điều trị nhiều chứng bệnh trong đó có đau thần kinh toạ do chèn ép, giảm ứ trệ tuần hoàn, giảm phù nề, đạt kết quả tốt và khá trên 50% ngay sau lần thực hiện đầu tiên, số trường hợp đạt kết quả rất tốt, kỳ diệu không phải là hiếm.
2. Phương pháp Yumeiho làm giảm đau có lẽ do giải quyết được chèn ép nhưng nó không giải quyết được gốc bệnh (bệnh lý đĩa đệm, thoái hoá cột sống), điều này giải thích đau dễ tái phát nhanh hay muộn tuỳ bệnh lý nặng nhẹ, tuỳ điều dưỡng chăm sóc có đầy đủ hay không, kết hợp thuốc bổ đúng mức (bổ tinh, làm chậm quá trình thoái hoá, và tập luyện cột sống).
3. Đề tài thực hiện đối với bệnh nhân ngoại trú nên khó theo dõi đánh giá chính xác kết quả điều trị nói chung và liệu pháp Yumeiho. Cho nên đánh giá kết quả tức thời ngay sau khi làm thủ thuật có lẽ tương đối chính xác và kết quả cuối cùng của điều trị là tổng hợp nhiều yếu tố.

VIII. KẾT LUẬN

Đau thần kinh toạ là một bệnh lý thường gặp tại phòng khám, có triệu chứng đau khá đặc biệt, khó nhầm lẫn với bệnh khác. Nguyên nhân chủ yếu là bệnh lý của đĩa đệm, là hậu quả của thoái hoá cột sống. Liệu pháp Yumeiho đối với bệnh nhân trẻ đau cấp tính lần đầu cho kết quả khá tốt, nhanh và duy trì lâu nếu có chế độ điều dưỡng đúng mức, còn đối với bệnh nhân gia, đau nhiều lần, mãn tính, trên nền thoái hoá cột sống nặng thì liệu pháp Yumeiho cần kết hợp với nhiều phương pháp điều trị khác để đạt kết quả tối ưu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ môn Đông y Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Bài giảng Đông y – NXB Y học 1975
2. Nguyễn Mạnh Phát
Xoa bóp tăng cường sức khoẻ, phòng bệnh và chữa bệnh – NXB TDTT Hà Nội.
3. Masayuki Saionji
Xoa bóp thần diệu Đông phương – XB Y học 1994
4. A.De Sambues
Cẩm nang xoa bóp trị bệnh – NXB Thành phố Hồ Chí Minh
5. Trương Thìn
– Phát triển phương pháp luận Đông y
Câu lạc bộ Y học Dân tộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
6. Viện Y học cổ truyền Việt Nam.
Tài liệu tập huấn các bệnh về khớp 1996.
7. Nguyễn Văn Thông
Đau thần kinh hông – NXB Y học 1995
8. W. Henry Hollinstread
Texbook of Anatomy – Harber Row Pulblishers
9. Arthur Guyton
Textbook of Medical Physiology
WB.SAunder Company. Toronto
10. Garfin-SR ; Rydevik-B ; Lind-B ; Massie-J
Spinal nerve root compression. Spine. 1995 Aug.
15 ; 20 (16) : 1810-20

PHU LUC III.3

HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP YUMEIHO

NGUYỄN KHẮC MINH

I. Nguyên nhân gây bệnh

Theo lý thuyết Y học cổ truyền Đông phương thì bệnh do 3 nguyên nhân gây ra:
1. Nguyên nhân bên ngoài
Phong, hàn, táo, thấp, hoả, thử, còn do vi khuẩn hoặc do dùng thuốc quá liều, do tác dụng phụ của thuốc, do thức ăn độc…
2. Nguyên nhân bên trong
Vui, buồn, giận, lo nghĩ, kinh sợ, do lệch lạc về cấu tạo, cơ co cứng, xương lệch (chủ yếu xương hông).
3. Lối sống
Lao động quá sức, thiếu vận động cơ thể, thiếu ngủ, thiếu dinh dưỡng. Khi mắc phải một trong các nguyên nhân trên thì người ta bị bệnh, các triệu chứng bệnh xuất hiện trên cơ thể như các cơ bị co cứng, sưng, nóng, đỏ tấy và đau. Khi xương bị lệch (chủ yếu xương hông) thì hai chân không bằng nhau, chân dài chân ngắn, trọng lượng người đặt không đều trên hai chân. Chân nào chịu trọng lượng nhiều hơn thì cơ bị co cứng và yếu đi. Lúc đó trọng lượng phải chuyển sang chân kia. Nếu cả hai chân đều bị yếu thì một trong hai chân phải chịu trọng lượng nhiều hơn, mệt mỏi nhiều mới được luân phiên chuyển trọng lượng sang chân kia. Mức độ suy yếu ngày càng trầm trọng cả hai chân. Từ đó dẫn đến sự lệch các khớp xương, vẹo cột sống, chèn ép các hệ thống thần kinh, cản trở lưu thông máu và dần dần mất cân bằng cả toàn thân (chỉ có 0,1% cơ thể con người có xương hông bình thường). Hoạt động quá độ hoặc bị kích thích quá mức gây ra thừa
axit dạ dày, động kinh, đau đớn… Thiếu vận động bị ức chế và tắc ứ gây ra suy nhược thần kinh cùng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, mộng my, ù tai… do thiếu axit dạ dày, tê liệt cử động và các giác quan.

II. Hiệu quả của liệu pháp Yumeiho

Yumeiho xoa bóp, bấm nắn ở những điểm nhất định với 100 động tác cơ bản và các động tác chữa theo triệu chứng bệnh, có thể làm mềm toàn bộ cơ bắp, chỉnh toàn bộ cơ thể, giải phóng tắc ứ, kích thích thần kinh giao cảm và phó giao cảm (thần kinh thực vật), hệ thống thần kinh hoạt động dưới da. Liệu pháp Yumeiho kích thích lưu thông huyết, trao đổi chất tại chỗ, giảm phân huỷ hồng cầu và thẩm thấu ion, giảm đau (thông tắc/bất thống, thông tắc bất thông). Như vậy, liệu pháp Yumeiho có thể chữa được nhiều bệnh. Nó có hiệu quả với nhiều loại bệnh cấp tính, mãn tính, bệnh thuộc chức năng thần kinh, bệnh nội tiết. Ngoài ra nó còn có hiệu quả đối với các bệnh thần kinh, tâm thần, nội khoa, phụ khoa, nhi khoa, các bệnh về mắt, tai mũi họng, miệng và da. Sau đây là một vài ví dụ về hiệu quả của liệu pháp Yumeiho đến một số bệnh.
1. Bệnh thần kinh và tâm thần linh
Liệu pháp Yuneiho có thể chữa lành hoặc giảm nhiều loại bệnh thần kinh toạ, đau dây thần kinh cặp ba và nhiều loại đau dây thần kinh ở đầu, ngực, hông và chân tay, các chứng tê dại, kiến bò, quá mẫn cảm da, do bệnh thấp khớp gây ra cùng nhiều loại bệnh do viêm gốc thần kinh. Đa số bệnh nhân thuộc loại này cảm thấy giảm đau hẳn sau khi chữa thời gian ngắn. Td N.V.Cầm, 65 tuổi bị thần kinh tọa hai chân không đi lại được, đã được khỏi sau 15 lần chữa (do N.K.Mình).
Ô.Lê Liêm, 70 tuổi, bị cao huyết áp và bán thản bất toại do tai biến mạch máu não đã được thuyên giam, đi lại trong nhà sau 50 lần chữa (NH. Phi).
2 Bệnh thuộc cơ quan nội tạng (thần kinh thực vật bị chèn ép).
Bệnh hen phế quản được cắt cơn sau một số lần chữa, tiếng khò khè trong phổi nhỏ dần hoặc tắt hẳn. Bệnh viêm dạ dày – tá tràng, co thắt dạ dày, co thắt thực quản, đái rắt, đau bụng do viêm hoặc ở hơi cũng chưa được. Liệu pháp Yumeiho còn chữa đi lòng kinh niên hoặc táo bón, các bệnh huyết áp cao, tim đập nhanh do thần kinh bị kích thích, bệnh đái đường. Td.Ô.V.T.T, 72 tuổi bị bệnh đái đường, nằm viện 2 tháng, chữa ở nhà 15 tháng không khỏi, toàn thân suy nhược, không đi lại được đã được chữa khỏi sau 2 tháng bằng Yumeiho, lượng đường trong máu và nước tiểu giảm hẳn (do N.Nghinh).
3. Bệnh đau lưng và đau vai
Đau lưng có nhiều nguyên nhân như lệch đĩa đệm cột sống, sa cột sống, vôi hoá cột sống. Những chứng đau xương hồng đều cảm nhận được tuy thuộc vào sự chuyển lệch cột sống, vị trí xương hồng làm căng ra hay co lại cơ hồng, hệ quả chính của hiện tượng lệch xương hông. Td.O.N.T.Khôi 61 tuổi, bị lệch cột sống sang phải, bị vôi hoá ở các đốt L2, L3, L4, L5, khi nằm rất đau, mất ngủ đã khỏi sau 8 lần chữa (do N.H.Phi).
4. Bệnh phụ khoa
Liệu pháp Yumeiho có hiệu quả cao khi chữa các bệnh kinh nguyệt không đều, đau khi thấy kinh, có hiệu quả nhất định đối với mất kinh, nôn oẹ khi có thai, đau tử cung sau khi đẻ, sa dạ con… GS.Trần, học sinh cũ của Viện xoa bóp nắn Đài Loan nói trường hợp vô sinh cũng có thể chữa khỏi bằng liệu pháp này.Td.ChịN.T.Hương, 24 tuổi, bị mất kinh đã 5 tháng đã khỏi sau 5 lần chữa.

III. Kết luận

Hiệu quả của việc chữa chạy phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của thầy thuốc. Người chữa Yumeiho phải nhìn độ lệch của xương hông, quan sát dấu hiệu trên mặt, dáng (cử động) nằm ngồi…
Khi chữa thầy thuốc dùng tay mình xem độ mềm cứng cơ của bệnh nhân, dùng tại để nghe tiếng kêu khi chỉnh. Khi đó những điều kiện bệnh lý như thực hư, hàn nhiệt sẽ biểu hiện ra. Dĩ nhiên hiệu quả chữa sẽ tốt hơn nếu thấy thuốc tham khảo những kết quả xét nghiệm của
y học hiện đại. Qua các yếu tố này thầy thuốc tìm ra cơ sở bệnh để chữa. Kỹ thuật kém, quan sát tồi về mặt nào đó sẽ xảy ra tai biến, có khi nguy hiểm.
4P8 khu tập thể Trương Định, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội


PHỤ LỤC III.4.
ĐÓNG GÓP CỦA YUMEIHO TRONG PHÁT TRIỂN ESPERANTO TẠI VIỆT NAM

Tiến sĩ NGUYỄN QUANG
KS Thầy thuốc NGUYÊN KHẮC MINH

I. Việc đưa Yumeiho vào Việt Nam

1. Masayuki Saionji, người sáng tạo ra Yumeiho sinh tại Tokyo năm 1943. Ông đã học nhiều phương pháp xoa bóp, chủ yếu là các phương pháp xoa bóp phương Đông, đặc biệt là của Trung Quốc. Ông đã tốt nghiệp trường xoa bóp Shiatsu tại Nhật. Trên cơ sở các phương pháp đã học được, ông đã sáng tạo ra một phương pháp xoa bóp trị liệu mới kế thừa được mặt ưu điểm của các phương pháp khác. Năm 1981, ông mở một cơ sở chữa bệnh tư tại Tokyo. Khoảng giữa các năm 1987-1991, ông cho xuất bản cuốn sách “Xoa bóp thần kỳ đặc hiệu  phương Đông”. Bắt đầu từ năm 1980 ông học tiếng Esperanto. Năm 1990 ông sử dụng rất hiệu quả ngôn ngữ này và trở thành hội viên xuất sắc của Hội Quốc tế ngữ thế giới. Hàng năm ông có tham gia các hội nghị quốc tế và giới thiệu về phương pháp trị liệu bằng Yumeiho. Vừa qua ông đã đi nhiều nước và giới thiệu về Yumeiho theo lời mời của các nhà Esperanto.
2. Phép trị liệu Yumeiho tác động vào yếu tố bên trong của bệnh như yếu tố di truyền, khí chất, sự căng cứng cơ, lệch xương, chủ yếu là xương hông. Do xương hông lệch, trọng lượng cơ thể không phân phối đều trên hai chân, một trong hai chân sẽ chịu tải trọng nhiều hơn. Từ đó các cơ sở của một chân sẽ dần dần bị co cứng và lượng máu lưu thông đến đó giảm đi : sự mất cân đối và co cứng này sẽ tiến triển dẫn đến cả toàn thân. Liệu pháp Yumeiho có tác dụng làm mềm các cơ bị co cứng và dần dần làm cho các xương hông trở lại cân bằng và hai chân bằng nhau. Liệu pháp Yumeiho đã chữa trị có hiệu quả nhiều loại bệnh nhiều nước trên thế giới (Phòng điều trị tại Tokyo, Ba Lan, Nga, Litva, Hungari) và Yumeiho đã thực hiện ở trên 20 nước.
3. Quá trình đưa Yumeiho vào Việt Nam
Năm 1991, cuốn sách “Xoa bóp thần kỳ đặc hiệu phương Đông” của tác giả Masayuki  Saionji bằng tiếng Esperanto đã được TS. Nguyễn Quang và KS. Nguyễn Khắc Minh dịch ra tiếng Việt và được các thầy thuốc Việt Nam nghiên cứu sử dụng.
– Năm 1992, TS So Gilsu đến thăm Việt Nam, biết được tin này đã tin cho tác giả Masayuki Saint và tác giả đã viết thư trao đổi với dịch giả.
Tháng Từ năm 1994, Masayuki Saionji sang Việt Nam tại Hội thảo quốc tế về các phương pháp điều trị phương Đông tổ chức tại Hà Nội. Trước đó vào tháng 4 năm 1994, phái viên của ông M.Saionji, ông Reza, đã đến Hà Nội thăm các nhà Quốc tế học và một số cơ sở y tế, trình bày về Yumeiho và Esperanto, chuyển dịch bằng video về Yumeiho sang tiếng Việt và chuẩn bị cho chuyến thăm của ông M.Saionji vào tháng Tư. Cuối tháng 5, Reza lại sang thăm Việt Nam và lần đầu tiên mở lớp dạy Yumeiho bằng Esperanto tại Bệnh viện Anh hùng Vân Đình. Từ đó phong trào Esperanto – Yumeiho phát triển ở Việt Nam cùng với nhiều lần viếng thăm và mở lớp khác của M.Saionji và Reza ở
Việt Nam, chủ yếu là Hà Nội, Hà Tây, Thanh Hoá, thành phố Hồ Chí Minh, Long An. Nhờ tài trợ của Bệnh viên trung tâm Yumeino Tokyo, cuối năm 1994, cuốn Yumeiho bằng tiếng Việt đã được xuất bản. Nhiều nhà Yumeiho mới được đào tạo đã sử dụng sách và bằng tiếng Việt để mở các lớp Yumeiho-Esperanto trên toàn quốc, chủ yếu là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Thái Nguyên. Các thầy thuốc tại các tỉnh khác như Hải Phòng, Hoà Bình, Hải Dương cũng được cử về học. Ở các tỉnh xa như Sóc Trăng, cũng viết thư gọi điện để trao đổi học tập.
Thực sự là nhờ có cuốn sách về Yumeiho “Xoa bóp thần kỳ đặc hiệu phương Đông” nhận được ở Việt Nam năm 1990, và cũng nhờ hiệu quả chữa bệnh của Yumeiho được nhiều người chú ý mà chúng tôi đã phổ biến Esperanto, đúng như phương châm của tác giả M.Saionji là “Esperantocho Yumeiho và Yumeiho cho Esperanto”.

II. Sự phát triển của Yumeiho và Esperanto trong phong trào đổi mới ở Việt Nam

Esperanto bắt rễ ở Việt Nam từ năm 1930, nhưng vì nhiều lý do, chủ yếu là do mất chủ quyền và cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài, Esperanto chỉ thực sự ra hoa kết trái từ những năm 1980 sau khi đất nước được giải phóng và thống nhất hoàn toàn. Bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, vào đầu năm 1990 phong trào Esperanto được hồi phục lại cùng với việc mở nhiều lớp dạy Esperanto và việc thành lập tổ chức Esperanto ở cả hai miền đất nước. Từ đó nhờ có Esperanto mà chúng tôi biết đến Yumeiho. Việt Nam trải qua cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài phải chịu đựng vô vàn bất hạnh và bệnh tật, phải khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại bằng chính nỗ lực của mình và sự giúp đỡ của các phong trào tiến bộ trên thế giới, trong đó có phong trào Esperanto và Yumeiho. Liệu pháp Yumeiho thực sự là liệu pháp tự nhiên, cơ bản, không dùng thuốc, không tốn tiền, dễ học đối với các thầy thuốc Việt Nam, có nhiều nét tương đồng với trị liệu vật lý cổ truyền Việt Nam nên rất thích hợp với những bệnh nhân nghèo của chúng tôi và do đó đã nhanh chóng được phổ biến. Chúng tôi có thể phân ra thành 3 giai đoạn phát triển của Yumeiho ở Việt Nam :
1. Giai đoạn giới thiệu và giảng dạy Yumeiho trong năm 1994 do ông M. Saionji và Reza thuộc Học viện quốc tế thực hành phòng chữa bệnh Tokyo TIPMP thực hiện.
a. Giới thiệu và giảng dạy Yumeiho do ông M.Saionji
Tháng 4/1994, ông giới thiệu về Yumeiho tại Hội thảo quốc tế về y học phương Đông tại trường Đại học Y Hà Nội trước 200 giáo sư, bác sĩ y khoa, đại diện Bộ Y tế và các vị khách từ Mỹ, Canada, Hàn Quốc, và thực hiện thao tác trình bày Yumeiho tại CLB Văn hoá phương Đông, sau đó là cuộc trao đổi với hàng trăm người quan tâm.
Cuối năm 1994, ông M.Saionji giới thiệu Yumeiho tại Bệnh viện Quân đội 108 trước 300 giáo sư, bác sĩ y khoa, đại diện Bộ Y tế, sau đó tổ chức thi thực hành cho các học viện Yumeiho tại Hà Nội, trong đó có 2 học viên đạt cấp II và 10 học viên đạt cấp I (trên 5 cấp).
Cuối năm 1996, ông M.Saionji trở lại Hà Nội, giảng dạy và thực hành Yumeiho tại Bệnh viện Quảng Ninh, Trường Cao đẳng Y học Tuệ Tĩnh, Bệnh viện Vân Đình, và cấp giấy chứng nhận cấp III cho 4 học viên Yumeiho tại CLB Unespe.
b. Giới thiệu và giảng dạy Yumeiho do ông Reza, trợ lý của IIPMP
Tháng 3/1994, ông Reza đến Hà Nội giới thiệu về Yumeiho và Esperanto cho 40 học sinh của Trường Y học dân lập Hà Nội, thu bằng tiếng Việt cho cuốn bằng Yumeiho và chuẩn bị cho buổi giới thiệu tại Hội thảo Quốc tế tại Hà Nội.
Cuối tháng 5/1994, ông Reza giới thiệu và giảng dạy Yumeiho cho hơn 50 thầy thuốc chuyên khoa của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Cần Thơ, Long An, Vũng Tàu. Sau đó ông mở lớp Esperanto và Yumeiho tại Bệnh viện Vân Đình cho gần 50 thầy thuốc chuyên ngành Hà Nội và Vân Đình. Từ lớp này đã tạo nhà Yumeiho Việt Nam đầu tiên.
Tháng 8/1994, Reza tổ chức lớp Yumeiho Es – peranto đầu tiên ở miền Nam Việt Nam (Bệnh viện Long An) và mở lớp lần thứ hai ở miền Bắc tại Bệnh viện Thanh Hoá (cách Hà Nội 300km).
Nhờ có các buổi giới thiệu, mở lớp học, in sách về Yumeiho và giới thiệu bằng băng video tiếng Việt, IIPMP đã đào tạo trực tiếp và gián tiếp trên 1.000 học viên Yumeiho Esperanto vào năm 1994.
2. Giai đoạn tự phát triển về Yumeiho cùng với Esperanto từ năm 1995 đến 1998.
Phong trào Esperanto Yumeiho phát triển mạnh xung quanh hai khu vực là Hà Nội ở miền Bắc và thành phố Hồ Chí Minh ở miền Nam. Hội Esperanto thành phố HCM tổ chức sự cộng tác giữa IIPMP và các bệnh viện y học dân tộc thành phố HCM và bệnh viện tỉnh Long An cũng như giảng dạy Esperanto cho các thầy thuốc.
Ở Bệnh viện thành phố HCM, bác sĩ Quan Vân Hùng chỉ đạo nghiên cứu hai đề tài:
1. Thăm dò hiệu quả lâm sàng về kỹ thuật kích thích cột sống bằng liệu pháp Yumeiho (áp dụng cho 30 bệnh nhân).
2. Theo dõi tác dụng giảm đau bằng liệu pháp Yumeiho trong đau thần kinh toạ do thoái hoá cột sống (áp dụng trên 53 bệnh nhân).
Trong cả hai báo cáo này đều xác nhận hiệu quả của liệu pháp Yumeiho quả là xoa bóp thần kỳ.
Tại Bệnh viện Long An, bằng Yumeiho từ tháng 8/1996 đã chữa được 160 bệnh nhân. Bệnh viện đã tự mở lớp dạy Yumeiho tháng 4/1996 tại thị trấn Phước Tân C huyện Châu Thanh cho 20 thầy thuốc và các nhà Yumeiho này đã chữa trị được 42 bệnh nhân từ tháng 8.
Ngày 1-7-1994, ở Hà Nội thành lập CLBUNESPe (Unesco-Esperanto) có nhiệm vụ phổ biến giảng dạy Esperanto và Yumeiho ở miền Bắc, trước tiên là ở quanh Hà Nội, sau đó đến các tỉnh Hà Tây, Thanh Hoá, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Bắc. Cuối năm 1997 hai chi hội trực thuộc HANEA để chuyên môn hoá công việc. Chi hội y học Yumeiho Esperanto đến nay đã phát triển tới 134 hội viên, trong đó có 20 bác sĩ y khoa, nhiều thầy thuốc, dược sĩ, sinh viên y khoa và các kỹ thuật viên. Họ làm việc tự giác để phát triển phong trào.
Từ năm 1994 – 1995, các hội viên của chi hội đã giới thiệu Yumeiho tại CLB Thăng Long cho 200 cán bộ trung cấp hưu trí, ở Lý Nam Đế cho 50 cựu hiến binh, ở Hội chữ thập đỏ Cống Vị cho 40 người quan tâm tới liệu pháp Yumeiho, mở lớp Yumeiho cho các CLB phường Nguyễn Trãi, Khương Trung, và đã chữa ở các CLB này hàng trăm bệnh nhân.
Năm 1996 giới thiệu Yumeiho tại các buổi họp và tại các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hoá, Thái Nguyên cho 59 thầy thuốc. Hội viên chi hội đã chữa tại 3 phòng khám tổng số 162 bệnh nhân và chữa cho hàng trăm bệnh nhân tại nhà.
Năm 1997, ứng dụng liệu pháp Yumeiho tại các phòng khám xã Nhân Chính và Khương Trung đã điều trị được 65 trong số đó có 45 bệnh nhân nặng. Trong ngày thương binh liệt sĩ, phòng khám Khương Trung cùng một số thầy thuốc của chi hội đã khám và chữa cho 46 cựu chiến binh.
Cả năm đã mở một lớp Esperanto Yumeiho cho 22 hội viên của chi hội tại phòng họp của chi hội phố Nguyễn Trãi, 2 lớp Yumeiho ở thị trấn Cầu Diễn cho 32 học viên, 2 lớp tại phường Bưởi cho 30 học viên, hướng dẫn thao tác Yumeiho cho 20 hội viên Esperanto. Chi hội họp mỗi tháng một lần để trao đổi về chuyên môn, kinh nghiệm điều trị đái đường, cao huyết áp, phối hợp Yumeiho với các phương pháp điều trị cổ truyền khác. Chị hội thường xuyên trao đổi về kinh nghiệm và kỹ thuật Yumeiho với các tỉnh xa như Hải Phòng, Hải Hưng, Vĩnh Phúc tại miền Bắc và Sóc Trăng, Vũng Tàu tại miền Nam.
3. Giai đoạn củng cố thành quả của phong trào Yumeiho Esperanto chuẩn bị tham gia đại hội Es – peranto châu Á lần thứ II (AK2).
Phong trào Yumeiho Esperanto ở Việt Nam đạt được kết quả bền vững vào cả năm 1998, 1999.
– Ở miền Nam, hai bệnh viện y học dân tộc thành phố HCM và Long An đã thực hành liệu pháp Yumeiho như là một liệu pháp điều trị chính thức. Tại hội nghị quốc tế 83 ở Montpellier năm 1998, bác sĩ Cúc đã trình bày liệu pháp này trước các đại biểu của hội nghị và rất được tán thưởng.
Ở Hà Nội, chi hội y học Esperanto Hà Nội, chi hội trưởng là KS. thầy thuốc Nguyễn Khắc Minh đã hội tụ dần đến cuối năm 1999 thì có 134
hội viên yêu thích Yumeiho và Esperanto. Việc chủ yếu là day Yumeiho và Esperanto cho các hội viên mới. Chi hội mở các lớp Esperanto cơ bản cho 33 hội viên mới và lớp hội thoại cho 14 hội viên nâng cao. Một số theo học lớp Esperanto của HANEA. Lãnh đạo cung cấp các phương tiện học để tự học, chủ yếu là các tài liệu liên quan đến AK2, Khẩu hiệu là “Mỗi nhà Yumeiho đều là nhà Esperanto”.
Về kỹ thuật chuyên môn y học đã mở được 5 lớp: 2 lớp Yumeiho tại phường Giảng Võ và Bưởi, 3 lớp khác về y chủ yếu là y học cổ trường:
châm điện loa tai, liệu pháp khí công tâm năng, thấp thủ đạo.
Năm 1998, hai phòng khám ở bệnh viện Nhân Chính và Khương Trung đã điều trị được 130 và 160 bệnh nhân, chưa kể hàng trăm bệnh nhân được điều trị tại nhà. Kế hoạch năm 1999, để hưởng ứng AK2, chi hội y học dự kiến:
1. Mở một phòng chữa cai nghiện ma tuý.
2. Mở phòng tư vấn về y học và sức khoẻ.
3. Tổ chức luyện tập Yumeiho chuẩn bị cho
AK2 và kỳ thi sắp tới

III. Esperanto và Yumeiho và sự triển khai châu Á

Qua Đại hội II châu Á, nhân dân Việt Nam thực sự muốn kết bạn với tất cả các nước châu Á cũng như với các nước trên thế giới vì độc lập,
 hoà bình, phát triển và thịnh vượng. Rất nhiều nước ở châu Á đều là các nước đang phát triển như Việt Nam có những điều kiện sống tương đương nhau. Chúng ta còn phải chịu đựng sự nghèo nàn bệnh tật, do đó chúng ta thực sự cần đến Esperanto và Yumeiho. Esperanto chỉ ra con đường hợp tác hữu nghị, còn Yumeiho là một phương pháp điều trị có hiệu quả, ít tốn kém, rất cần cho các bệnh
nhân nghèo. Yumeiho đóng góp vào sự phát triển của Esperanto và cả hai hỗ trợ nhau cho phong trào phát triển tại Việt Nam là một minh chứng lịch sử có thể cần thiết cho sự phát triển châu Á vì hoà bình và đoàn kết quốc tế.

PHỤ LỤC III.5.
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TỔNG KẾT MỘT NĂM ÁP DỤNG LIỆU PHÁP
YUMEIHO VÀO CHỮA BỆNH TẠI PHÒNG KHÁM CTĐ NHÂN CHÍNH

Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Chi hội Y học Yumeiho Esperanto, phòng khám CTĐ Nhân Chính đã chọn bệnh nhân đưa vào điều trị để nghiên cứu về hiệu lực điều trị của phương pháp này.
Chủ đề tài : Kỹ thuật viên Nguyễn Hoành Phi
Theo dõi giám sát điều trị: Bác sĩ Đinh Văn Chất
Từ tháng 10/1997 đến tháng 10/1998 chọn 100 bệnh nhân đưa vào diện điều trị nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu :
1. Khám và chẩn đoán chính xác
Môi bệnh nhân có một phiếu khám sức do bác sĩ thực hiện, gồm các xét nghiệm cận lâm sàng như film X-quang, siêu âm, xét nghiệm và
giấy khám bệnh của bệnh viện.
2. Làm bệnh trình điều trị – ghi rõ triệu chứng chủ quan mà bệnh nhân khai báo, ghi vào bệnh án.
3. Dự kiến thời gian điều trị (một liệu trình).
Tiến hành điều trị
Về thầy thuốc : KTV Nguyễn Hoành Phi thực hiện theo liệu tình, hàng ngày trực ở phòng khám để phục vụ.
Về bệnh nhân : Hoàn toàn tự nguyện, có mặt đủ số ngày dự kiến.
Đánh giá kết quả
Sau 1 liệu trình điều trị : Căn cứ vào triệu chứng chủ quan của bệnh nhân khai báo và cần thiết cho đi kiểm tra cận lâm sàng để kết luận:
1. Khỏi hẳn
2. Giảm đỡ
3. Không giảm
4. Nặng thêm
Trong số bệnh nhân khỏi hẳn, có bệnh án theo dõi nên tổng kết được tổng số ngày điều trị khỏi và biết được ngày điều trị khỏi trung bình cho mỗi căn bệnh.
Qua 1 năm nghiên cứu điều trị – đã thực hiện được 100 bệnh nhân.
Trong số 100 bệnh nhân này có 38 bệnh nhânn ữ = 38% và 62 bệnh nhân nam = 62%
Về căn bệnh : Phân thành 25 nhóm bệnh
Tuổi bệnh nhân : Từ 15 đến 80 tuổi
Số thống kê chi tiết như sau (trang 3, 4)
Nhận xét chung : Như bản thống kê.
Tỷ lệ :
Điều trị khỏi : 72%
Giảm đỡ : 18%
Không giảm : 10% 30
Không có bệnh nhân nào nặng thêm
Ngày điều trị khỏi trung bình : 4 ngày
Với số liệu trên chưa nói lên được biện pháp Yumeiho có thật là thần kỳ không. Vì số liệu còn quá ít và bệnh nhân đưa vào điều trị là có chọn lọc.
Trước đây KTV Nguyễn Hoành Phi đã điều trị cho 2 bệnh nhân
Một bệnh nhân là cháu bé 5 tuổi bị vẹo lệch cột sống bẩm sinh (biến dạng đốt sống) phát hiện từ lúc 2 tuổi đã chữa nhiều nơi như ở Viện Nhi Thuy Điển. Hiện nay phải mặc áo giáp chỉnh hình, sau đó KTV Nguyễn Hoành Phi đã áp dụng liệu pháp Yumeiho chữa hai liệu trình, mỗi liệu trình 10 ngày nhưng không có kết quả.
Một bệnh nhân nữ 50 tuổi phát hiện bị vẹo lệch cột sống từ năm 17 tuổi cũng đã chữa nhiều nơi nhưng không khỏi, sau khi KTV Nguyễn Hoành Phi Yumeiho chữa 3 liệu trình, mỗi liệu trình 10 ngày nhưng cũng không mang lại kết quả.
Nhưng lần này KTV Nguyễn Hoành Phi đã thành công với tỷ lệ 72% khỏi, chỉ với ngày điều trị trung bình là 4 lần điều trị.
Việc nghiên cứu kết quả điều trị ở phòng khám như chúng tôi thật không dễ. Vì nhiều bệnh nhân nửa chừng bỏ điều trị mà không hề báo cáo cho phòng khám biết lý do. Hoặc là có điều kiện để đến chữa, hoặc họ đã khỏi bệnh, hoặc là họ cho là không có hiệu lực bỏ đi chữa phòng khám khác vv…
Nhưng trong thời gian một năm qua, ở phòng khám Nhân Chính có nhiều bệnh nhân tìm đến và xin chữa bằng liệu pháp Yumeiho, chứng tỏ nhiều người tin tưởng liệu pháp Yumeiho này.
Vì số bệnh nhân được điều trị trong một năm còn quá ít, nên phòng khám chữa tổng kết được từng loại căn bệnh. Chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu.
Có một điều thực tế cho thấy là qua 1000 bệnh nhân được điều trị không hề dùng thuốc (dù là Tây y hay Đông y) vẫn khỏi bệnh. Đặc biệt là
không có trường hợp nào xảy ra phản ứng phu,
Ngày 17 tháng 6 năm 1999
Người viết tổng kết
Bác sĩ ĐINH VĂN CHẤT

SỐ THỐNG KÊ CHI TIẾT

TT Tên bệnh Tổng

số

BN

điều

trị

Số bệnh nhân

điều trị khỏi

Số bệnh nhân

không khỏi

 Số

BN

Khỏi

Số

TK

TK

TB

Giảm

đỡ

Không

giảm

Nặng

thêm

 1 Suy nhược thần kinh  1
2 Thoái hóa cột sống lưng 18 11
3  Đau lưng cấp 28 27
4 Chuột rút bắp chân 1 1
5 Thoái hóa đốt sống cổ 4 4
6 Đau dây TK cánh tay 1 1
7 Liệt dây VII, sụp mi 1
8 Thiểu năng tuần hoàn não 2
9 Thần kinh tọa 13 7
 10 Đau vai 3 2
 11 Nhược cơ HAC 1
 12 Viêm da khớp dạng thấp 1
 13 Viêm khớp cùng chậu 1
14 Vẹo cổ 10 10 50 5
15 Tai biến mạch máu não 1 1
16 Đau toàn thân (sốt) 1
17 Đau bại cánh tay 2 1 1
18 HA thấp, đau đầu mất ngủ 1 1 3 3
19 Rối loạn TK ngoại vi 1 1 2 2
20 Viêm khớp hông 1 1
21 Viêm dây thần kinh V 1 1
22 Thấp khớp đau khớp gối 1 1
23 Đau thần kinh liên sườn 5 5 15 5
24 Viêm xoang 1 1 5 5
25 Đau gót chân 1 1 5 5
TC 25 chứng bệnh 101

người

72

người

285

người

73

người

18

người

10

người

0

người

Tổng số ngày điều trị trung bình cho mỗi bệnh nhân: 4 ngày

Số bệnh nhân được chữa bằng Yumeiho: 100 người
Tổng số ngày điều trị khỏ : 285 ngày
Tổng số ngày điều trị khỏi trung bình: 4 ngày
Số bệnh nhân khỏi: 72 người (72%).
Số bệnh nhân chỉ giảm đỡ: 18 người (18%).
Số bệnh nhân không giảm: 10 (10%)
Số bệnh nhân nặng thêm: (0 người (0%).
Ghi chú: Những căn bệnh sau:
2. Thoái hoá cột sống lưng
5. Thoái hoá đốt sống cổ
12. Viêm đa khớp dạng thấp
13. Viêm khớp cùng chậu
20. Viêm khớp hồng
là những bệnh sau điều trị khỏi bằng liệu pháp Yumeiho chỉ khỏi triệu chứng đau của bệnh.
Hà Nội, ngày 1 tháng 6 năm 1999
Người làm thống kê
Kỹ thuật viên
NGUYÊN HOÀNH PHI

PHỤ LỤC III.7.
Sở Y TẾ THÀNH PHỐ HCM VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài : THĂM DÒ TÁC DỤNG LÂM SÀNG

Kỹ thuật tác động cột sống của phương pháp Yumeiho
Chỉ đạo: BS. Trương Thịnh
Viện trưởng Viện Y dược học Dân tộc thành phố HCM
Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kỹ thuật Viện
Thực hiện: BS. Quan Vân Hùng
Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự:
Ys. Nguyễn Thị Kim Cúc
Ys. Nguyễn Thị Thể Loan
I. Mục đích
Từ xưa đến nay, ở cả Đông Tây, nói chung các nhà y học coi môn xoa bóp như là một trong những phương pháp để bảo vệ sức khoẻ và trị bệnh cho con người. Kỹ thuật xoa bóp rất phong phú, đa dạng, tác động lên mặt da toàn cơ thể mà nơi không thể thiếu được chú ý nhiều nhất chính là cột xương sống, là nơi nối với não bộ, xuất phát hệ thần kinh chi phối toàn thể con người, do đó tác động lên cột sống xem như đã ảnh hưởng hầu hết cơ thể. Phương pháp Yumeiho là một trong những phương pháp xoa bóp của Nhật, củng cố những mục đích tương tự, đặc biệt phần tác động lên cột sống rất đặc biệt, cần nghiên cứu theo dõi, do đó chúng tôi đã thừa kế và ứng dụng trên bệnh nhân của Viện Y dược học Dân tộc thành phố HCM, qua đó theo dõi và đánh giá cụ thể tác dụng của phương pháp này.
II. Đặc điểm phương pháp
A. Nguồn gốc
Phương pháp Yumeiho còn có tên là “phép trị liệu nắn chỉnh xương hông”, tác giả M.Saionji, người Nhật, là Giám đốc Học viện Quốc tế về phòng bệnh Tokyo, Phương pháp này đã được hướng dẫn tại Viện Y dược học Dân tộc thành phố HCM năm 1994 với gần 50 học viên gồm các bác sĩ, y sĩ, lương y, kỹ thuật viên dưỡng sinh tích cực học tập và ứng dụng rộng rãi trong viện và ngoài viện.
B. Kỹ thuật Yumeiho
Toàn bộ phương pháp Yumeiho gồm 100 động tác xoa bóp trên da toàn cơ thể, riêng phần trên cột sống, là phần mà chúng tôi cho rằng là quan trọng nhất có khoảng 20 động tác. Khi thực hành trên bệnh nhân, các động tác trên cột sống luôn được thực hiện cộng thêm một số động tác khác tuỳ chứng bệnh (xem bằng hình video).
C. Tác dụng của phương pháp Yumeiho
C.1. Để hiểu tác động của xoa bóp trên cột sống, chúng ta cần hiểu rõ cấu trúc – chức năng của cột sống, tuỷ sống và các phần có liên quan.
1. Cột sống
– 33 đốt : 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng, 4 – 5 đốt cụt.
– Các đốt khớp với nhau cho phép một biên độ cử động giới hạn. Bao khớp tương đối lỏng lẻo, dễ bị dãn do cử động nặng quá mức là một trong những nguyên nhân đau cột sống. Bao khớp năm đàng sau nơi thần kinh chui ra, do đo biến dạng do viêm hay phì đại xương dễ chạm gây tổn thương dây thần kinh.
– Vùng lưng – thường (Lumbosacral juntion) chịu nhiều trong lực nên dễ đau.
– Cử động cột sống chủ yếu nhờ tính đàn hồi và có thể ép của đĩa liên sống, cử động gây ra bởi cơ quanh cột sống, trọng lực và cơ thành bụng.
– Nguyên nhân gây đau thắt lưng : căng quá mức dây chằng sau trên khớp, trên cơ, tổn thương khớp khi nâng vật nặng hay vặn khớp, bệnh lý đĩa sun.
2. Phần mềm quanh cột sống
– Cơ: Làm gập, ưỡn và nghiêng, xoay cột sống (nếu suy yếu gây đau).
3. Tuỷ sống – hệ thần kinh thực vật và chuỗi hạch giao cảm và dây thần kinh tuỷ sống.
– Tuỷ sống: Sừng sau nhận sợi cảm giác, sừng trước cho sợi vận động, sừng bên có chứa tế bào Liên hạch của hệ giao cảm.
– Hệ thần kinh thực vật : Là một hệ thống chức năng rộng lớn chi phối hoạt động tự động các cơ quan và tạng phủ (somatic and visceral).
+ Giao cảm : Với day chuỗi hạch giao cảm từ C1 – xương thiêng, dãy này năm phía trước bên cột sống, nhận sợi tiền hạch từ sống bên tuỷ sống (T1 – L2), từ hạch giao cảm phát xuất sợi hầu hạch đi đến cơ quan toàn cơ thể.
+ Đối giao cảm :Xuất phát từ thần kinh sọ não (III, VII, IX, X) và dây thần kinh tuỷ (thiêng), sợi tiền hạch đến gần sát cơ quan, từ đó cho tế bào hậu hạch chi phối cơ quan đầu cổ và tạng phủ.
Tác động của hệ giao cảm giúp cơ thể đối phó cấp thời với mọi tình huống đột xuất, hệ đối giao cảm điều hoà, giữ ổn định các hoạt động cơ thể.
4. Thần kinh tuỷ sống
Có 31 đội, chui qua lỗ liên đốt ra ngoài (là nơi dây thần kinh dễ bị chèn ép, nhất là vùng lưng), mỗi dây, tuy xuất phát từ mỗi tiết đoạn nhưng trước khi đến cơ quan, chúng trộn lẫn nhau, do đó tác động lên thần kinh ngoại biên tại một điểm nào đó có tác dụng lên nhiều tiết đoạn khác,cơ quan khác.
C.2. Tác dụng của xoa bóp nói chung và phương pháp Yumeiho:
1. Lên hệ thần kinh
Là tác dụng rõ ràng và phong phú nhất, vì da và hệ thần kinh quan hệ mật thiết ngay từ bào thai. Tác động lên da gây nhiều phản xạ có thể điều chỉnh các rối loạn của hệ thần kinh mà nổi bật nhất là hệ thần kinh thực vật
2. Lên da
Đẩy mạnh lưu thông huyết toàn cơ thể, tăng dinh dưỡng toàn thân nói chung.
3. Nội tiết
Xoa bóp da làm tăng tiết histamin, “hợp chất 4” gây ra một số tác dụng nội tiết (dãn mạch).
4. Hệ hô hấp – Tuần hoàn tiêu hoá
Cơ thể điều chỉnh nhanh một số rối loạn nhờ xoa bóp.
5. Hệ cơ
Tăng sức chịu đựng, dinh dưỡng.
6. Xương khớp, dây chằng
Tăng nuôi dưỡng. Nói chung, tác dụng xoa bóp lên da toàn thân và cột sống đã gây nhiều tác dụng lên nhiều hoạt động cơ thể mà đặc biệt nhất là hệ thần kinh thực vật là cơ quan có khả năng đáp ứng cấp thời với kích thích của môi trường xung quanh, với các yếu tố tâm lý đã gây ra các rối loạn mà ta có thể điều chỉnh nhanh bằng xoa bóp, đặc biệt trên cột sống.
* Tác dụng của phương pháp Yumeiho:
Ngoài các tác dụng chung của xoa bóp, phương pháp Yumeiho do tác động trực tiếp lên cột sống, làm rung chuyển vận động cột sống và xương hông,sân còn có tên “phương pháp bóp nắn chỉnh xương hông”, có thể đạt được nhiều tác dụng khác hơn, đặc biệt các bệnh do di lệch dù rất ít của đốt sống, ngoài tác dụng trị liệu trực tiếp, phương pháp Yumeiho có tác dụng tốt trong phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ:
1. Phép trị liệu tạo cho bạn cảm giác ấm áp,mát mẻ và phấn chấn hẳn lên. Thực tế bạn không cảm thấy bị ép nặng trên tim, không cảm thấy sợ sệt như ở bệnh viện.
2. Phép trị liệu đẩy lùi sự mệt mỏi, làm phấn chấn cơ thể, khi sự lưu thông máu được điều hoà thì sự trao đổi chất trong cơ thể được cải thiện và những yếu tố gây mệt mỏi được loại trừ.
3. Phép trị liệu ngăn ngừa những bệnh quan trọng do nâng cao năng lực “tự cứu” của cơ thể, tăng sức đề kháng chống bệnh và tăng cường hoạt động của nội tạng, như vậy bạn chắc chắn không mắc phải những chứng bệnh nghiêm trọng.
4. Phép trị liệu gây miễn dịch chống lại cảm cúm là do khi cơ thể không có sức đề kháng chống lại siêu vi trùng thì dùng bất cứ thứ thuốc gì cũng sẽ không có hiệu quả.
5. Phép trị liệu tăng chiều cao cơ thể. Nhờ chỉnh lại xương hông mà các cơ xương và các đốt sống mềm lại làm cho khoảng cách giữa các đốt cột sống rộng ra và cột sống thắng lại, dẫn đến chiều cao thân thể tăng lên, chủ yếu đối với trẻ con.
6. Phép trị liệu làm cho dẻo dai cơ thể, làm cho cử động được nhanh nhẹn. Ai cũng biết, muốn khoẻ mạnh cần phải tập luyện thân thể, do đó phép trị liệu này là môn thể thao tốt để cho cơ thể được cân bằng. Phép trị liệu phục vụ toàn bộ cơ thể và thích hợp cho tất cả mọi người trong khi thể thao còn có những chỗ không thích hợp cho từng người.
7. Phép trị liệu làm cho bạn tươi tỉnh và hoạt bát. “Tâm hồn khoẻ mạnh trong thân thể khéo mạnh”. Nếu tâm hồn bệnh hoạn thì thân thể cũng bệnh hoạn. Nếu bạn muốn có thân thể khoẻ mạnh thì bạn hãy chấp nhận cách chữa bệnh theo phép trị liệu này.
8. Phép trị liệu này còn cải thiện chức năng sinh dục và có hiệu quả nhất định đối với chức năng suy nhược chức năng sinh dục.
D. Phương pháp nghiên cứu
Lâm sàng:
1. Phương pháp
Theo dõi và đánh giá bằng triệu chứng lâm sàng
2. Đối tượng
– 30 bệnh nhân nội trú (khoa nội 2).
– Tuổi từ 20 – 70 tuổi
– Chẩn đoán: Các bệnh thường gặp ở khoa mà bệnh lý có liên quan đến cột sống, rối loạn thần kinh thực vật (thí dụ đau lưng, đau thần kinh toạ, yếu chi, suy nhược thần kinh, viêm thần kinh).
3. Chỉ tiêu theo dõi
– Theo dõi đánh giá tác dụng cấp thời của phương pháp Yumeiho trên:
+ Trạng thái mệt mỏi, thụ động.
+ Triệu chứng đau.
+ Triệu chứng yếu, tê mỏi.
– Theo dõi đánh giá các tác dụng trên khi xuất viện.
(Đánh giá tác dụng sau mỗi lần làm là chính).
4. Thời gian nghiên cứu:
– Từ 1 – 4 tuần.
– Làm thủ thuật Yumeiho trên bệnh nhân mới ngày hay cách ngày tuy tình trạng bệnh, cá biệt có bệnh nhân làm 2 lần mỗi ngày
5. Tiến hành cụ thể
– Chọn khám và điều trị tại khoa nội 2.
– Làm bệnh án theo mẫu thống nhất của viện.
– Xét nghiệm thường quy (máu, nước tiểu, X quang, ECG).
3. Phương pháp: Dựa vào lời khai chủ quan của bệnh nhân. Tham khảo các dấu chứng lâm sàng đồng thời ghi nhận bằng “thang nhìn” . Mỗi triệu chứng chức năng của bệnh nhân được đánh giá.
Thí dụ :
Đau
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Nhóm nghiên cứu giải thích cho bệnh nhân các triệu chứng chức năng trước khi điều trị làm thủ thuật là 10. Sau khi mỗi lần làm thủ thuật, khi xuất viện, bệnh nhân sẽ tự đánh giá vào “thang nhìn” về mức độ giảm bớt các triệu chứng.

Mức đánh giá:
+ A (cải thiện tốt) : Mức độ bệnh lý của triệu chứng thang nhìn còn từ 0 – 3.
+ B (cải thiện trung bình) : Còn từ 4 – 8.
+ C (không cải thiện) : Mức độ 9 – 10.
E. Kết quả lâm sàng (thực hiện 8 – 9 -10/1995)
A. Số liệu chung
1. Số lượng bệnh nhân: 30
2. Giới tính: Nam 11, nữ 19
3. Độ tuổi :
20 – 30 tuổi : 3
30 – 40 tuổi : 7
40 – 50 tuổi : 6
50 – 60 tuổi : 3
60 – 70 tuổi : 7
Trên 70 tuổi : 4
4. Chẩn đoán lâm sàng
. Viêm thần kinh toạ cấp: 4
– Thoái hoá cột sống ( già, đau lưng đau chân, tê, yếu chi): 14
– Suy nhược thần kinh (mất ngủ, mệt): 1
– Hội chứng Guillain Baré: 1
– Gai đôi S1 (gây đau lưng): 1
– Thoái hoá đốt thắt lưng: 1
– Viêm… thần kinh (gây yếu chỉ): 2
– Gai cột sống (trẻ) : 2
– Suy nhược cơ thể (đau lưng, tê chi) : 2
– Viêm tuỷ mạn: 1
– Chấn thương cột sống/THCS: 1
5. Chẩn đoán theo Đông y
Đại đa số là tinh – khí – huyết suy, dương thuỷ suy, âm hoả suy.
6. Thời gian mắc bệnh
– Từ 3 – 10 ngày: 4 bệnh nhân (cấp)
– Đại đa số: trên một tháng – vài năm (mạn)
B. Kết quả
1. Kết quả thức thời (ngay sau khi làm thủ thuật)
a. Khoẻ, dễ chịu, phấn chấn : 28/30 bệnh nhân.
b. Giảm đau rõ rệt (thang nhìn từ 10 giảm xuống còn 2 – 5, đánh giá A – B).
14/24 (24 bệnh nhân có đau)
(Trong đau thần kinh toạ dấu Lasegue từ 30 – 60o).
Số còn lại 10/24 bệnh nhân.
– Giảm đau ít (thang nhìn còn 6 – 8).
– Không có bệnh nhân nào đau hơn.
– Có 2 bệnh tối hôm đó có cảm giác rêm mình mẩy, có lẽ do làm mạnh tay quá.
c. Tế – yếu : giảm (thang nhìn còn 3 – 8). Sau mỗi lần làm thủ thuật tiếp theo, các triệu chứng giảm hơn.
2. Kết quả khi xuất viện.
Khoẻ, giảm đau, giảm tê, yếu: 29/30 bệnh nhân.
Thật ra kết quả ngày xuất viện là do tổng hợp nhiều phương pháp (thuốc, nghỉ ngơi, châm cứu, tập luyện…)
3. Phản ứng phụ
Chưa thấy
Vài bệnh nhân cảm thấy rêm mình mẩy tối đó, có lẽ do thủ thuật quá mạnh tay, các lần sau làm nhẹ hơn thì không còn rêm mình nữa.
4. Vài trường hợp điển hình:
1. Phạm Thị Nay, 73 tuổi, SHS 2332, nhập viện vì đau lưng và đau yếu hai chân, chỉ sau lần làm thủ thuật đầu tiên, chứng đau lưng giảm hắn (thang nhìn còn 1 “A”) sau khi vặn lưng nghe một tiếng “cặp” đau lưng giảm ngay.
2. Nguyễn Văn Lập, 25 tuổi, chuẩn đoán thần kinh toạ P, mới có 3 ngày, sau khi làm thủ thuật, đau giảm rõ rệt, thang nhìn còn 3/10, sau hai lần bệnh hầu như hết.
3. Nguyễn Thị Mỹ Xinh, 32 tuổi, SHS 2318, chuẩn đoán đau thần kinh toạ cấp (1 lần), lúc nhập viện nằm rên rỉ khóc lóc, sau khi làm đau giảm hẳn (thang nhìn còn 3/10), các lần sau đau giảm, xuất viện khoẻ, hết đau.
4. Nguyễn Ánh Minh, 43 tuổi, yếu hạ chi một tháng, đi loạng choạng dễ té, chuẩn đoán viên thần kinh do rượu, sau lần thủ thuật đầu tiên, bệnh nhân có thể đi dễ dàng, khoảng 50 mét, khá vững.
F. Bàn luận
1. Tác động lên cột sống để điều chỉnh rối loạn thần kinh, nhất là hệ thần kinh thực vật, có kết quả rõ rệt về mặt lâm sàng (phấn chấn, khoẻ hơn dạng suy nhược, ổn định thần kinh ở dạng hưng phấn, mất ngủ, hồi hộp). Phương pháp cạo gió của y học cổ truyền Việt Nam, đánh giá của BS Trần Nam Hương (cải tiến từ cạo gió cũ) cũng không ngoài mục đích điều chỉnh rối loạn hệ thần kinh thực vật. Nếu bệnh nhân còn khoẻ (tinh huyết khí thần tân dịch còn đầy đủ), bệnh cấp, nhẹ (thí dụ nhiễm siêu vi là bệnh phổi biến) thì chỉ cần cạo gió theo y học cổ truyền Việt Nam hay phương Pháp Yumeiho mà tác dụng có lẽ mạnh hơn, đủ để điều trị, không cần phối hợp với các phương pháp khác. Còn với cơ thể đã suy nhược, bệnh mãn tính thì phương pháp Yumeiho giúp điều chỉnh rối loạn hệ thần kinh thực vật (là triệu chứng làm bệnh nhân khó chịu), chắc chắn góp phần không ít vào quá trình lành bệnh (có phối hợp thuốc đặc trị, bổ…), bệnh nhân cảm thấy dễ chịu ngay, làm giảm, góp phần giảm đau khổ cho bệnh nhân và có thể rút ngắn quá trình điều trị.
2. Các chứng đau, tê, yếu do chèn ép ở cột sống (trực tiếp hay do phù nề, xơ cứng) do di lệch dù rất ít của cột sống, xương hông thì bằng phương pháp Yumeiho (làm dãn cột sống, điều chỉnh di lệch, giảm ứ trệ tuần hoàn, giảm phù nề, có thể làm giảm hết được đôi khi kết quả rõ rệt, thần hiệu, nhất là bệnh cấp, bệnh nhân còn trẻ, khoẻ (bệnh nhân Nay, Lập, Mỹ, Xinh, Minh).
3. Do đề tài được thực hiện tại khu nội trú (bệnh nhân mang bệnh nặng, lâu, phức tạp, tâm lý muốn được điều trị nhiều thuốc, nhiều phương pháp), do đó không thể chỉ điều trị bằng phương pháp Yumeiho trong suốt thời gian nằm viện, do đó đề tài đã được khẳng định qua đề tài này, còn kết quả cuối cùng của bệnh nhân chắc chắn có phân đóng góp không nhỏ của phương pháp Yumeiho.
Kết luận
Qua 30 bệnh nhân được tác động lên cột sống bằng phương pháp Yumeiho để trị liệu, chúng tôi nhận thấy:
1. Tác dụng trên hệ thần kinh, đặc biệt hệ thần kinh thực vật, rất rõ rệt các bệnh nhân đều cảm thấy khẻo, dễ chịu, khoan khoái, bớt hồi hộp, dễ ngủ.
2. Làm giảm các chứng tê yếu, đau nhức có lẽ do chèn ép tại cột sống hay di lệch xương hông.
3. Phương pháp này nếu được dùng trong săn sóc sức khoẻ ban đầu, nâng cao sức khoẻ phòng bệnh chắc chắn sẽ đạt nhiều kết quả.
THÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ môn Đông y Trường Đại học Y khoa Hà Nội
Bài giảng Đông y – NXB Y học 1975
2. BS Nguyễn Mạnh Phát Xoa bóp tăng cường sức khoẻ, phòng bệnh và chữa bệnh – NXB TDTT Hà Nội.
3. Masayuki Saionji
Xoa bóp thần hiệu Đông phương- NXB Y học 1994.
4. BS A DE Sambus
Cẩm nang Xoa bóp điều trị bệnh – NXB Thánh phố HCM.
5. Trương Thìn
Phát triển phương pháp luận Đông y – CLB Y học – Dân tộc Sở Y tế thành phố HCM.
6. W.Henry Hollinshead
Text Book Of Anatomy – Harber Row Publishers
7. Arthur GuytonText Book of Medecal Physiology – WB.Sauder
Company Toronto

BÁO CÁO VỀ PHONG TRÀO YUMEIHO TẠI VIỆT NAM

VÀ YUMEIHO TẠI ĐẠI HỘI II ESPERANTO CHÂU Á TẠI HÀ NỘI, VIỆT NAM THÁNG 8/1999

Tại Đại hội II Esperanto châu Á có khoảng 500 người dự từ 20 nước. Yumeiho được đưa chương trình chính thức của Hội nghị II châu Á và được trình bày vào chiều ngày đầu tiên. Tham dự có khoảng 50 đại biểu Hội nghị. Khi Saionji giảng, các đại biểu Hội nghị được cân ly tâm. Mọi người rất thú vị về chiếc máy đo ly tâm liên hợp NOVA VIVO BALANCE ENER (Cân năng lượng cuộc sống mới). Trong hội nghị, hàng trăm đại biểu được đo bằng chiếc máy này, kết quả in ra trên giấy không phải trả tiền. Trong khi trình bày, Saionji làm sáng tỏ lý thuyết và kết quả của việc điều trị theo quan điểm của lý thuyết trọng tâm, máy do Saionji sáng chế và là chiếc đầu tiên trên thế giới. Saionji giới thiệu nhiều thí dụ về các ca bệnh chữa khỏi do các nhà Yumeiho ở nhiều nước trên thế giới thực hiện. Thí dụ về chứng vẹo xương sống, các bệnh về các đốt sống, bệnh hay ……,dị ứng da, tăng cường tóc chống than hoá, làm tóc bạc đen lại, hiệu quả của sự kiêng ăn chống bệnh vô sinh ở phụ nữ, nâng cao tầm vóc, chinh thẳng xương hông và làm bằng hai chân, chữa chứng dễ viêm sưng tử cung, còn được báo cáo về việc chữa đau xương hông phải, trong Đại hội Y học thế giới lần thứ 12, một nhà Quốc tế ngữ trong 2 tuần đo trọng tâm chân phải của ông ta nặng hơn chân trái (4,5kg và 5kg). Các nhà Yumeiho đã cùng nhau chữa, nhưng chỉ chữa chân trái, chân này hoàn toàn không đau và điều thắng lợi là thay đổi được trọng tâm về KHÔNG, nghĩa là hoàn toàn cân bằng và việc đau chân phải hoàn toàn biến mất (theo phiếu ghi). Điều này xảy ra đúng như ảo thuật, nhưng nó là hiệu quả theo lý thuyết trong tâm, nó là phương pháp rất quan trọng, là lý thuyết cơ bản cho lĩnh vực y học.
Bài giảng này cùng các tư liệu đã gây một ấn tượng rất mạnh cho 15 nhà Yumeiho Việt Nam và những người dự Hội nghị (từ Nhật cũng có 2 nhà Yumeiho tham gia Hội thảo). Sau bài giảng là các báo cáo bằng Esperanto của nhà Yumeiho Hà Nội thuộc Chi hội Y học Yumeiho Esperanto va nhà nữ Yumeiho của Bệnh viện thị trấn tỉnh Cần Thơ, đây là thành phố lớn thứ hai sau thành phố HCM. Tôi đã nhận được báo cáo năm về Yumeiho của thầy thuốc Yumeiho Phi và một nhà báo nói về hiệu quả của Yumeiho. Yumeiho đã được tiếp nhận ở một số nước châu Âu và cả ở Trung Quốc. Sau Đại hội tiến hành thi cho 36 học viên Yumeiho,một người đạt cấp 4, ba người đạt cấp 3 và phần
lớn đạt cấp 2, họ đã học từ 12 đến 36 tháng, một số học vài tháng. Buổi tối là buổi họp mặt hữu nghị giữa các nhà Yumeiho trong không khí đầm ẩm, một thầy thuốc Tây y đã nói về kế hoạch năm tới về Yumeiho sẽ xây dựng một trung tâm Yumeiho, đó sẽ áp dụng Yumeiho cùng với Tây y, cùng với các máy móc chẩn đoán và với các máy đo trọng tâm hỗn hợp. Saionji rất vui vẻ, mong muốn cộng tác với các nhà Yumeiho Hà Nội. Hiện nay Hà Nội có 120 nhà Yumeiho (17 bác sĩ và 30 thầy thuốc, và còn lại là các kỹ thuật viên).
Tại thành phố HCM và thị trấn Cần Thơ có khoảng 200 nhà Yumeiho trong các bệnh viện, Viện Y học Dân tộc và bệnh viện hội chữ thập đỏ. Thực hiện thi tại viện có 2 bác sĩ và một thầy thuốc đạt cấp 4. Một bác sĩ đã sáng tác cuốn sách về Yumeiho, xem như cuốn sách thuộc chuyên ngành khoa học, cùng các bệnh đã được chữa bằng tiếng Việt, sau đây sẽ được dịch sang Esperanto và tiếng Anh. Saionji giới thiệu máy cẩn trọng tâm tại Viện y học Dân tộc và Giám đốc Bệnh viện rất hoan nghênh.Thực hiện việc trình bày Yumeiho và máy đo trong tâm tại Bệnh viện Chữ thập đỏ tại thành phố HCM, nữ Giám đốc Bệnh viện này mong muốn đưa được môn này vào Viện, và mong phát triển Yumeiho ra toàn quốc. Nữ Yumeiho làm việc tại Bệnh viện thị trấn nói về Yumeiho rằng tại Bệnh viện này có một phòng dành riêng cho Yumeiho có 6 giường, mà bệnh nhân đến đây chỉ chữa bằng Yumeiho, lúc đầu để chữa các bệnh khác nhau.Giám đốc cũng chính là người đầu tiên chịu trách nhiệm tại phòng Yumeiho. Cô Yumeiho này dạy Esperanto cho các bạn đồng nghiệp và các bạn bè. Cô ta hứa với Saionji là sẽ tìm hiểu sâu về Esperanto và thay mặt Giám đốc Bệnh viện Cân Thơ mời Saionji lần sau đến đó. Tháng Hai năm 2000 Saionji sẽ lại sang Việt Nam theo lời mời của nhiều nhà Yumeiho.
1/9/199

LIÊN QUAN GIỮA XƯƠNG HỒNG,

TRỌNG TÂM VÀ BỆNH
MASAYUKI SAIONJI
Viện Y học Quốc tế thực hành phòng bệnh Tokyo

Trọng tâm có liên quan đến trọng lượng cơ thể trên chân phải và trọng lượng cơ thể trên chân trái. Điều này có thể đo bằng máy trọng tâm “Cân ener” được II.P.M.P phát minh ra, là loại đầu tiên trên thế giới.
1. Sự lệch xương hông là do mất cân bằng về trọng tâm.
2. Sự mất cân bằng về trọng tâm gây nên sự mất cân bằng về độ căng cơ ở cả hai chân và làm lệch xương (các khớp) của thân thể.
3. Trọng tâm trong thời gian luôn luôn thay đối, nhưng có thể xảy ra luân chuyển (bên phải| hoặc bên trái), trong thời gian xác định (cố định).
4, Sự lệch xương hông còn do tử cung người (do tinh thần căng thẳng hoặc do tử cung phát triển không tốt) còn do trước khi sinh hoặc trong lúc sinh xảy ra can thiệp bằng dụng cụ hoặc di truyền, nếu như mẹ bị lệch xương hông.
5. Lệch xương hông xảy ra do mất cân bằng (quá căng hoặc quá suy nhược).
Cơ bị căng quá ở cả hai chân và sự mất cân bằng này ta thấy mọi thời gian hàng ngày cử động không có ý thức liên quan đến chân, còn cả trong giấc ngủ.
6. Những cổ động về ý thức này ngày càng tăng sự mất cân bằng về căng cơ ở cả hai chân và sự lệch các khớp xương.
7. Căng thẳng tinh thần gây căng thẳng cơ của toàn cơ thể và càng làm mất cân bằng trọng tâm.
8. Thể thao và thể dục ngay cả đi và chạy,nếu quá cũng làm mất cân bằng trọng tâm, cơ căng thẳng mệt mỏi cũng làm tăng thêm sự mất cân bằng trọng tâm, ăn quá nhiều, uống quá nhiều làm căng các cơ quan nội tạng và các cơ làm tăng sự mất cân bằng trọng tâm.
9. Mất cân bằng trọng tâm ảnh hưởng đến sự ngon miệng, chức năng của các cơ quan tiêu hoá và những sự sắp xếp bố trí (người dễ béo hoặc người khó béo lên được).
10. Mất cân bằng trọng tâm, đến một mức độ nào đó và sau khi thay đổi có thể sinh bệnh. Sau khi mất cân bằng cả hai chân (liên quan giữa bệnh lệch chính và ngược lại). Đó là chức năng tự lập lại dao động cân bằng) và như vậy hết bệnh. Người ta gọi là khả năng tự chữa bệnh.
11. Hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm cũng ảnh hưởng đến trọng tâm.
12. Sự mất cân bằng trọng tâm thường xảy ra ở nửa ngoài (chủ yếu gồm cả não và các cơ quan nội tạng) ở bên trái hoặc nửa bên phải của
cơ thể.
13. Trạng thái tinh thần (tính hoạt bát vui vẻ, tinh thần suy nhược).

14. Mất cân bằng trọng tâm, cơ thể kiểm tra được khi dùng máy, đặc biệt không dùng máy, thực tế có thể kiểm tra bằng cách so sánh sự co cứng hai khớp hông. Các- 15. Để chữa những người bệnh, một điều rất quan trọng là làm mất sự mất cân bằng về trọng tâm cơ thể, và đạt được kết quả sau khi chữa.

NGUYÊN KHẮC MINH dịch

SỬ DỤNG TIN TỨC VỀ YUMEIHO

Các bạn Yumeiho thân mến, tin tức thế nào rồi, để từ đó nảy sinh ra những suy nghĩ liên quan đến Yumeiho. Bản tin này của nhà  Yumeiho, sinh viên Y khoa, đã gửi cho tôi. Tâm thành xin chào Masayuki Saionji. Chào Saionji thân mến, Xin cám ơn về những bức thư có thông tin đa dạng.
Tôi chúc mừng sự ra đời của MYS, tôi muốn cộng tác và cũng có những câu hỏi các chuyên ngành quốc gia có phải là những tổ chức chính thức không?
Các chuyên ngành quốc gia có phải đăng ý ở sở đăng ký Nhà nước không ?
MYS có phải là Hội của các Chi hội quốc gia không, hay những thành viên quốc gia đăng ký cá nhân?
Tôi vô cùng cảm ơn về lời đề nghị của ông* Việc tham gia ban chấp hành. Xin cho biết rõ nhiệm vụ của tôi.
Tôi mới đề nghị với ông là tổ chức chuyên ngành Sibêri, vì Nga là đất nước rất lớn, và các thành viên Siberi không thể thường xuyên đến tham dự tổ chức với nhau được. Vậy xin báo cáo về công việc của chúng tôi.
1 Phòng điều trị phương Đông “SAKURA” đã hoạt động và đăng ký chính thức.
2. Chúng tôi xuất bản ……. “SAKURA” để phụ cvụ các bạn đồng học và các người học.
3. Một năm 3 – 4 lần chúng tôi hướng dẫn các lớp học cho các người có nhu cầu.
4. Sau cùng tôi là hội viên của hội khu vực, tôi đã báo cáo trước các nhà chỉnh xương kỳ cựu, họ đều là các bác sĩ và tốt nghiệp các đẳng cấp cao về y học. Tôi đã báo cáo về Y.T. (Yumeiho liệu pháp) và đã sử dụng chính các thống kê, đề thi và các bản X-quang. Sau khi dịch xong, tôi sẽ gửi cả cho ông. Đây là một thắng lợi lớn về Yumeiho liệu pháp mà trong khi điều trị tôi đạt được, và phân chia của hội. Trường phái của ông đã nổi tiếng trong khu vực của chúng tôi và đạt được những thắng lợi trong y học.
5. Tôi đã dịch toàn bộ các băng hình sang tiếng Nga, và sử dụng chúng trong điều trị.
6. Chúng tôi đã xuất bản sách học đen trắng và tất cả các bài giảng về Yumeiho. Sách mẫu nhà xuất bản về các vấn đề tài chính.
Tôi có kế hoạch soạn cuốn “Yumeiho liệu pháp cho thiếu nhi” (có các ảnh màu) vì có nhiều chuyên viên. Tất nhiên là ông cho phép. Ông có bài thích hợp về các vấn đề trẻ sơ sinh không ?
7. Chúng tôi đã phát minh ra máy hệ thống thần kinh thực nghiệm. Sau khi kiểm tra bệnh nhân, máy cho biết lệch về phía nào và lệch bao nhiêu (mức độ lệch). Điều này chứng tỏ giữa giải phẫu và vị trí cơ thể có mối liên quan toán học (hay có nghĩa là tôi không ngủ trong 2 tháng và hầu như phát điên lên, và hàng ngày làm việc ở học viện, chiều làm việc với bệnh nhân, về đếm mới rảnh, nhưng hệ thống đã làm việc và cho kết quả. Đó là những việc rất quan trọng.Tôi mong thư của ông.

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG “YUMEIHO”

CỦA BỆNH VIỆN Y HỌC DÂN TỘC LONG AN

I. Đặt vấn đề.

“Yumeiho” là một phương pháp điều trị bệnh không dùng thuốc đã được áp dụng rộng rãi ở một số nước trên thế giới.
Năm 1994, được sự hỗ trợ của Hội Esperanto thành phố HCM và việc quan tâm của ngành Y tế tỉnh Long An, hội đã mở một lớp huấn luyện phương pháp này tại Bệnh viện Y học Dân tộc tỉnh Long An cho các huyện, thị, quận y tỉnh đội Long An và một số tỉnh lân cận thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

II. Mục đích yêu cầu

– Trang bị thêm thủ thuật điều trị bệnh không dùng thuốc cho đội ngũ thầy thuốc đang làm công tác điều trị bệnh tại các cơ sở y tế.
– Sau khi tập huấn xong, các học viên về địa phương, đơn vị mình đang công tác, trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, đồng thời mở lớp hướng dẫn phương pháp này cho cán bộ y tế cơ sở.

III. Kết quả thực hiện

– Ngày 10/8/1994 đến 13/8/1994, Hội Esperanto và thầy Reza trực tiếp hướng dẫn phương pháp Yumeiho tại Bệnh viện Y học Dân tộc Long An.
– Ngày 16, 17 và 18/4/1996, Bệnh viện Y học Dân tộc Long An mở lớp tập huấn tại xã Phước Tân Hưng, huyện Châu Thành, số học viên tham dự là 20.
Như vậy, từ khi triển khai phương pháp này đến nay Bệnh viện Y học Dân tộc Long An có triển khai cho một số địa phương trong tỉnh hoạt động không đáng kể, chỉ mang tính chất phong trào. Bệnh viện chỉ tập trung chủ yếu tại Bệnh viện và một xã điểm đã nêu trên.
– Kết quả:
+ Tại bệnh viện:
Tổng số bệnh nhân được điều trị: 160

BẢNG PHÂN LOẠI
(tính từ 1-12-1995 đến 10-1-1996)

TT Phân loại bệnh Tổng

số BN

Lượt

ĐTTB

cho 1 BN

Khỏi Giảm Ghi chú
1  Gai Cột Sống  35 30 15 20
2  Đau thần kinh hồng 30 30 20 10
Đau khớp (các dạng) 25 30 20 05
Đau đầu 10 10 07 03
Suy nhược TK 17 20 07 10
Rối loạn TK Vật 13 10 10 03
Thoái hoá Cột Sống 20 20 15 05
Cao huyết áp 10 15 17 03
Tổng cộng 160 320 100 60

 

Ghi chú: Đối với bệnh nhân bị gai cột sống khi mất cảm giác đau vùng lưng được coi như khỏi.
+ Tại xã Phước Tân Hưng, huyện Châu Thành
Tổng số bệnh nhân được điều trị 42
Lượt điều trị : 630 lượt
Góm:
– Bệnh nhân đau vùng thắt lưng 18 (270 lượt)
– Bệnh nhân nhức đầu, mỏi cổ, gáy, vai: 14 (210 lượt)
– Đau nhức mỏi khớp gối: 9 (35 Iượt)
– Trúng gió, ngất xỉu, nhức đấu: 1 (15 lượt).
+ Tổng công chung:
– Đã điều trị: 202 bệnh nhân
– Lượt điều trị: 4.450 lượt
Nhận xét
“Yumeiho” là một phương pháp điều trị bệnh giúp cho thầy thuốc nâng cao hiệu quả trong điều trị bệnh nhân. Mặc dù còn mới mẻ và chưa được áp dụng rộng rãi. Nhưng qua kết quả trên tại bệnh viện và một xã đã nói lên được tính chất ưu việt của phương pháp này.
Đề nghị
Có điều kiện Hội Esperanto nên giúp đỡ để Bệnh viện triển khai thêm một xã nữa, để cán bộ y tế cơ sở có điều kiện áp dụng phổ biến phương Pháp này được rộng rãi hơn và có điều kiện phổ biến Esperanto cho nhân dân trong tỉnh.

PHỤ LỤC 4

YUMEIHO LIỆU PHÁP
(Báo cáo công tác năm 1999 ở Havana)

Trong năm 1999 đến phòng khám chữa bệnh Đông Havana có 287 bệnh nhân nam, nữ, trong đó có:
139 nữ và 148 nam, tuổi từ 7 đến 88.
161 sau khi chữa đạt hiệu quả (76 nữ và 85 nam).
72 đến để phòng bệnh (38 nữ và 44 nam).
12 còn tiếp tục chữa (4 nữ và 8 nam).
32 bỏ chữa vì nhiều lý do khác nhau (21 nữ và 11 nam).
178 (62%) là đau cột sống (75 nữ và 103 nam).

TẤT CẢ HỌ NHẬN 1.441 LẦN CHỮA

Thông tin về những người đạt kết quả.
Các triệu chứng của bệnh nhân đạt kết quả:
73 bệnh nhân nam, nữ chỉ có 1 triệu chứng (26 nữ và 37 nam).
61 bệnh nhân nam, nữ chỉ có 2 triệu chứng 29 nữ và 32 nam).
19 bệnh nhân nam, nữ chỉ có 3 triệu chứng (6 nữ và 13 nam).
4 bệnh nhân nam, nữ chỉ có 4 triệu chứng (2 nữ và 2 nam).
3 bệnh nhân nam, nữ chỉ có 5 triệu chúng (2 nữ và 1 nam).

Kết luận chung:
Năm nay lượng bệnh nhân (287) tức là 88% so với số bệnh nhân năm ngoái (325) nhưng số lần chữa tăng 2% (năm nay là 1441 so với 1412 năm 1998). Ngoài ra còn một số điểm sau:

– Nhiều đàn ông đến chữa hơn so với năm qua.
– Tổng số trung bình lần chữa tăng lên: năm 1998 là 2,8 và năm 1999 là 3,6.
– Xử lý nhiều là các triệu chứng cột sống nhiều hơn so với năm ngoái năm 1998: 29, năm 1999: 36.
– Xử lý các triệu chứng cũng tăng lên: năm 1998: 99 ; năm 1999: 72.
Nhiều người bỏ chữa hơn năm 1998 là 15 và năm 1999 là 32.
– Tổng số trung bình lần chữa hơi tăng: năm 1998: 2,8; năm 1999: 3,6.
Chú ý là nhiều bệnh nhân đã tin tưởng vào Yumeiho.

Phân tích các triệu chứng nổi lên như sau:

1 – Đau cổ (49) năm nay đạt được kết quả ở 1 số nơi chữa đầu tiên. Trung bình lần chữa: 2,7.
2 – Đau thắt lưng (43). Lần đầu tiên mất đi 1 trong các điểm đau. Trung bình lân chữa: 3.
3 – Đau lưng (30). Gồm các dạng sau:
a) Vị trí đốt sống không đúng.
b) Sa (Xẹp) đĩa đệm các đốt sống.
c) Vặn cột sống.
d) Triệu chứng choáng váng… trung bình lân chữa: 3,2
4 – Nhức hông (22) giống như năm qua nhiều lần có kèm theo đau thắt lưng và hầu như luôn luôn sa đĩa đệm xương sống. Trung bình lần chữa: 4,4 (năm qua: 4,1).
5 – Đau cột sống (19). Tình trạng năm nay xử lý các triệu chứng gấp 5 lần. Trung bình lần chữa: 3,7.
6 – Các loại bệnh khác: Đau gội (11). Cơ bị căng (11), Đau cắng chân (11), Vẹo xương (9), Khớp chân vẹo (7), Viêm đột ngột (7), Suy nhược toàn thân (7), Đau cánh tay (6), Thần kinh căng thẳng (6), Xẹp đĩa đêm cột sống (4), Chẹo mu bàn chân (4), Đau ê ẩm vai (3), Đau liên sườn (3), Đau xương bả vai (2), Đau xương hông (2), Đau cổ tay (2), Rối loạn chức năng gan (2). Cao huyết áp (2). Hen suyễn (1) Táo
bón (1). Viêm họng (1). Đau buồng trứng (1) Cường tuyến giáp (1). Triệu chứng tâm thần (1). Đau thương vị (1). Viêm dạ dày (1). Béo phì, veo xương. Chúng tôi xác định rằng đa số bệnh nhân bị lệch xương chúng tôi để họ chữa bằng Yumeiho. Một số không nhiều chấp nhận chữa, nhưng chữa nhiều lần kéo dài và do thời gian thiếu, đi làm… họ đã bỏ chữa.
Chúng tôi sẽ viết về chủ đề trong tài liệu riêng.
Béo phì – xảy ra do sự lệch xương.
Chẹo mu bàn chân. Chúng ta xác định là sau khi chỉnh xương hông và xoa bóp, chân như mạnh lên, chẹo bàn chân sau 10 lần sẽ đưa được về chỗ cũ.

 NHỮNG VIỆC XẢY RA KHÁC VỀ YUMEIHO TRONG NĂM

Tháng 3. Chúng tôi hội nghị về Yumeiho trong thời gian hội nghị quốc gia của hội Esperanto Kuba, có trên 80 đại biểu và khách, trong hội nghị này tôi và con trai tôi France đã chữa cho một số người tham dự.
Tháng 5. Học trò của chúng tôi Robento Fernander Ferra cuối lớp học đã đạt được cấp 1 Yumeho bằng của anh ta số 007. Anh ta ở tỉnh
Olahavon, thị trấn Santa Cruz del Norte (đã được thông báo).
Tháng 6: Chúng tôi giới thiệu về Yumeiho ở nhà văn hóa Alamar thành phố Orienta Havano. Chúng tối chiếu bằng hình về lịch sử liệu pháp. Hàng năm chúng tôi sẽ tổ chức hội nghị theo yêu cầu của lãnh đạo có mặt trong buổi giới thiệu có 69 người.
Tháng 7: Học sinh của chúng tôi Michel Fernandez Catho học hết khoá học Yumeiho và độ cấp 1 bằng của anh ta số 008, anh ta ở thành phố Havana (đã được thông báo).
Tháng 8: Chúng tôi tiếp xúc với hai nhà quốc tế ngữ một ở thành phố Havana và một ở Santiago de Kuba, đối với họ chúng tôi rất đơn giản hóa các tài liệu và giúp cho việc học liệu pháp.
Tháng 11: Chúng tôi xây dựng mối quan hệ với Phong trào hoà bình thế giới Kuba và chúng tôi đã cho bộ sưu tập tạp chí của chúng tôi chim bồ câu xanh cho tổ chức này) tháng 2 năm 2000 chúng tôi sẽ  tổ chức lớp Esperanto và tháng 6 năm 2000 một lớp Yumeiho. Họ phong chúng tôi là hội viên của hội đồng khoa học và vợ tôi là hội viên hội đồng pháp lý, vì cô ta là luật sư.
– Tháng 12: Cuối năm chúng tôi đã nhận được của bác sỹ Saionji cấp 4 cùng các bạn tôi Zose Llerandi, anh ta ở gần tôi khu phố Alamer. Tôi còn nhận được danh dự là giám đốc khi thi tại chi hội Yumeiho thế giới Nam Mỹ. Tháng chạp tôi đã viết cho 2 người Colombia mà bác sỹ Saionji cho tôi địa chỉ và cho một người Kuba. Chúng tôi nói chuyện với ông Zosi Llerandi trong năm 2000 ông suy nghĩ sẽ làm việc với chúng tôi để phát triển Yumeiho.
Fancisco và Francel Briel
Người dịch: NGUYỄN KHẮC MINH
 

NGƯỜI BÁO CÁO
EKATERINA STAFIC RUMANI

1. Tên tôi là Leu Olas Artemisia ở Thụy Sỹ. Tôi là nhà văn. Tôi bị bệnh viêm đốt sống. Tôi mới biết về nữ thầy thuốc Ekaterina Stafic bà chữa cho tôi bằng Yumeiho. Sau 8 lần chữa tôi đã khỏi và bây giờ tôi cảm thấy rất khoẻ. Tôi thành tâm cảm ơn bà, Địa chỉ của tôi Sonnhalden. 7A, 8280 Kreulongen Thụy Sỹ.
2. Tên Daniela Ghinea.
34 tuổi, lấy chồng năm 1987. Bắt đầu từ năm 1990 đến năm 1994 tôi đã chữa nhiều phương pháp khác nhau ở thành phố Lugo của tôi để có con. Ở Banloko, ở Timoscara (liên tục 3 năm) “chẩn đoán: vô sinh”, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết. Bà Ekaterina Stojic đã chữa bằng Yumeiho cho tôi vào tháng chạp năm 1994 đã có kết quả cực kỳ tốt để tháng riêng năm 1995 tôi có chửa. Tháng 9 năm 19 tôi để được cháu gái Kristiana Maria Ghiner nặng 2,9kg rất khoẻ.
3. Tên Goran Obradov đàn ông 30 tuổi, Địa chỉ Trenjanin, Điện thoại 02343926 Nam Tư. Luôn lệ thuộc vào thuốc, Bệnh: Mệt mỏi, đau đầu, đau lưng, đau chân. Sau 15 lần chữa đã khởi, Ông ta nhận mỗi tháng 1 lần chữa từ tháng 8 năm 1997.
4. Tên Jelena Tabacki địa chỉ Elemir điện thoại 023737405, Nam Tư, Trẻ nhỏ 5 tháng, 2 tháng năm bệnh viện đo nhiệt độ cao 38. Cháu đã ra viện với nhiệt độ cao 40 dùng nhiều kháng sinh không kết quả gì, nhiệt độ vẫn không hạ. Thất vọng lớn, gia đình đã đến tôi vào ban đêm hy vọng vớt vát. Cháu bé sắc nhợt nhạt (tím tái), cháu bị ngạt, mạch đại, mắt quay ra lưng, thể trạng xấu, hoàn cảnh đau đớn hoàn toàn tôi bắt đầu xoa bóp toàn thân cháu bằng rượu ngâm, vì cách chữa này bà tôi đã chữa cho tôi khi tôi còn bé. Nhiệt độ hạ dần dần (đến 37,5ºC) tôi mặc quần áo cho bé, sau đó tiếp tục xoa bóp bằng Yumeiho không chỉnh các khớp. Cháu bắt đầu khóc thì tôi ngừng xoa bóp, sau đó tôi cho cháu uống trà hoa cúc vì cháu bị khát. Cháu không khóc khí chữa, Tổi để yên và tiếp tục xoa bóp cho cháu. Mầu má của cháu đã tốt lên, môi không xanh như trước, mạch trở lại bình thường. Cháu bé uống khoảng 1 lít nước chè. Nhiệt độ tiếp tục hạ xuống tới 36,5 độ.
Buổi sáng lúc 11 giờ nhiệt độ lại lên 40°. Tôi hỏi mẹ cháu tại sao như vậy? mẹ cháu nói là sau khi cháu ngủ và nhiệt độ lại tăng. Tôi lại chữa cho cho như cách cũ và không cho mẹ cháu cho cháu bú vì me cháu có bệnh nóng Blakata.
5. Tên: Stojiciva (bố vợ tôi đàn ông 73 tuổi), Chẩn đoán Parkinson (giai đoạn cuối), không đứng và ngồi dược, sơ gan. Đối với những bệnh
nhân viêm gan đơn giản cần giữ 1 năm ăn kiêng, tôi cho ông ăn kiêng không ăn thịt chỉ ăn rau quả, nước mía, chè, các vitamin và các chất khoáng. Sau 10 lần xoa bóp bằng Yumeiho chứa hàng ngày, ông đã có thể đi lại được, ông bắt đầu tự ăn được và sau 80 lần chữa ông hoàn toàn khỏi. Ông còn một mình đi du lịch sang Pháp, rất tiếc ở tuổi 78 ông muốn bảo vệ răng gây bằng quả Oliu, ông nuốt phải chúng và đã chết.
6. Tên: Birau Florica đàn bà 48 tuổi, địa chỉ phố: Iosif Nemoianu, Timosco; ĐT: 097716. Chân đoán: xơ gan sau 20 lần chữa và 1 năm ăn kiêng (rất nghiêm khắc chỉ có rau và quả) đã chữa khỏi.
7. Tên: Claudia Adi asavei. Đàn bà 30 tuổi. Địa chỉ: Phố Spre Sud số nhà 62 Zimboll Rumani Chẩn đoán đau nửa đầu, viêm xong, đau đầu
chóng mặt. Sau 10 lần chữa đã khỏi (năm 1994).
8. Tên: Jovanov Rada, đàn bà, 45 tuổi. Địa chỉ: Zrenjimin Nam Tư. ĐT: 02366046. Chẩn đoán: Vẹo xương và bị gù, lệch xương hông phải. Sao 30 lần chữa tầm vóc đã cao lên, xương sống thẳng ra. Tôi tiếp tục chữa cho đến nay tháng 1 lần (tháng 6 năm 1996).
9. Tên: Grubisa Mil, đàn ông 42 tuổi. Địa chỉ: phố Rue Ulmana. ĐT: 02369394 Zrenjiamin. Nam Tư.
5 tuổi ông đã phải vào nhà thương (nhà thương điên chữa bệnh tâm thần, ông bị bệnh mất lòng tin, rằng ông có 2 dạng đồng nhất. Ông đọc phần phần phải sang thành trái, rơi vào trạng thái tâm thần. Sau 3 lần chữa ông đã khỏi đến 50% sau 40 lần chữa ông đã hoàn toàn khỏi và đến nay ông đã làm việc, có cuộc sống bình thường với gia đình.
10. Tên: Zhatinka Sonarov đàn bà 47 tuổi. Địa chỉ: Enimiar. Nam Tư. ĐT: 023737378. Chẩn đoán: Ung thư tử cung, ra máu nhiều. Khỏi hẳn sau 50 lần chữa kết hợp ăn kiêng chay, sữa (tháng 8 năm 1996).
11, Tên: Kawrin Zoran. Trẻ em 8 tuổi. Địa chỉ: Rue Ulmana 45 Zenjianin. ĐT: 02347355. Chẩn đoán: Đái dắt. Sau 10 lần chữa đã khói, cháu là người rất hạnh phúc (tháng 2 năm 1995).
12. Tên: Glumạc Laci. Nam 48 tuổi. Địa chỉ: Otostrassa 37/A Otobrun 85521 Munchen Đức. ĐT: 094989 6084895. Chẩn đoán: Đau lưng, lệch xương hông trái. Sau 1 lần chữa trị cảm thấy rất tốt (tháng 8 năm 1995).
13. Tên: Đumitru Loan. Trẻ em 5 tuổi. Chẩn đoán: Đái đường. Cháu đã được điều trị bằng 3 loại insulin. Sau 6 lần chữa tình trạng sức khoẻ của cháu tốt lên. Đến ngày thứ 7 cháu mê sảng (trong các bệnh viên các thầy thuốc đã chán cháu. Đứa trẻ vẫn luôn mê sảng). Do đó bố mẹ cháu xin tôi tiếp tục cứu chữa, dù có xảy ra điều gì. Chiều sau khi xoa bóp trạng thái sức khoẻ của cháu bé tốt lên. Tôi xoa bóp cho cháu ngày 2 lần đến ngày thứ 8 đo lượng gluco của cháu, tôi ngạc nhiên đã xuống mức bình thường. Tôi tiếp tục chữa cho cháu 10 ngày nữa, ngày 2 lần. Từ đó cháu khoẻ, không còn vấn đề nào nữa (tháng 9 năm 1995).
14. Tên: Đara Radosivic đàn bà 58 tuổi. Địa chỉ: Elimir Nam Tư. ĐT: 737627. Bị mổ mật năm 1993. Bệnh: Sau khi mổ bắt đầu đau đầu, xuất hiện mất khả năng đi, đau các khớp, đau lưng, chứng hồi hộp, mất ngủ, phù thũng ở tay và chân, bụng trướng táo bón. Viêm Xoang. Sau 20 lần chữa bà đã khỏi. Hiện nay mỗi tháng bà đến xoa bóp 1 lần (tháng 8 năm 1995).
15, Tên Teo rayujin, đàn bà 30 tuổi, Địa chỉ: Phố Tuinbouti 150B 9717 Gronningen Hà lan. ĐT: 9931505734918. Trong thời gian sinh viên có tự dùng thuốc. Chẩn đoán: Mất ngủ, ít đổ mô hối, đau hông sa xẹp đĩa đệm cột sống, lệch xương hông phải. Sau 5 lần chữa bệnh đau lưng mất ngủ và bệnh lãnh đạm hết, Ra mồ hôi tốt hơn. Nhưng bà phải xa Hà Lan và ngừng chữa.
16. Tên: Worica Simileanu. Đàn bà 40 tuổi. Địa chỉ: Phố Samisegetuza 7be 39se Bap17 BroBou. ĐT: 068122629. Chẩn đoán: Dị ứng với nhiều mùi, bụi lông. Trong 7 ngày tiếp theo sau lần chữa đầu tiên, bà ta nói với tôi rằng bà ta đã chờ đợi 15 năm để có ai đó Xoa bóp cho bà bằng phương pháp Yumeiho. Bà cảm thấy rất khoẻ và không còn gì nữa (tháng 6 năm 1994).
17. Tên: Column Mariana. Cô gái 18 tuổi. Địa chỉ: Elezni BB, Nam Tư. ĐT: 811667. Chấn đoán: Liệt não. Cô ta mất khả năng đi và có đi chỉ đi đón trên ngón chân, đầu gối quay vào trong, gù, xương sống vẹo, chóng mặt, cả hai xương bông mất thăng bằng. Khi tôi nhìn thấy cô bé trên chiếc xe lăn trên đang phố, tôi hỏi cô bị bệnh gì? Cô ta trả lời cô bị bệnh liệt não, Tây y cũng như y học cô truyền không giúp ích gì được cho cô ta. Tôi chợt nhớ trong sách của tôi có viết rằng “Liệu pháp Yumeiho có mục đích là lập lại cân bằng toàn cơ thể qua động viên lực sông và do đó mà chữa được bệnh, nên gọi là liệu pháp cơ bản.
Tôi đề nghị chữa cho cô bằng phương pháp Yumeiho, Gia đình thì không tin nhưng cô bé thì chấp nhận lời thề nghị của tôi. Sau nhiều lần chữa cô đi lại bình thường. Tháng 3 năm 1994 tôi đã bắt đầu chữa bằng phương pháp Yumeiho, liệu pháp cơ bản. Như vậy tôi đã nói đúng sau 40 lần chữa cô đã thẳng người, sau 60 lần chữa tiếp cô đạt được khả năng đứng, sau 50 lần chưa tiếp nữa cô đã bước đi vững vàng. Sau 40 lần chữa tiếp, cô tử chạy, sau 40 lần chữa khác cô đi được xe đạp. Hiện nay có học hết khoa kinh tế ở Novisad, Như Vậy là sau 200 lần chữa cô hoàn toàn bình thường. Hiện nay có chữa mỗi tháng 1 lần.
18. Tên: Daminescu Monia. Đàn bà 38 tuổi.
Địa chỉ: Phố Stadion 61 60ap 14lugo.
Chẩn đoán: Viêm lá lách, dạ dày và gan bị bệnh lao, toàn cơ thể yếu, viêm xoang, đau đầu, Sau 30 lần chữa, kết hợp với ăn kiêng chữa khỏi hoàn toàn. Cô là nữ giáo sư hoá và lại bắt đầu làm việc tại trường.
19. Tên: Prutiu Monica, Đàn bà 62 tuổi.
Địa chỉ: Phố Cermei số 13 Lugoj.
Chẩn đoán: Bệnh thuộc đĩa đệm lưng, đau khớp hồng, vẹo xương và viêm xương sau 20 lần chữa khỏi.
20. Tên: Radevic Nada. Đàn bà 57 tuổi.
Địa chỉ: Schandauer 4A 12045 Berlin Đức. ĐT: 6889568.
Chẩn đoán: Bệnh đĩa đệm, bà ta không thể điều khiển được các khớp tay, không thế cử động được các ngón. Sau 10 lần chữa (ngày 1 lần) bà ta đã khỏi.
21. Tên: Covacey Vera đàn bà 32 tuổi.
Địa chỉ: Ive Lola Rilara 400. Elimir 23208. Nam Tư. ĐT: 023738206.
Chẩn đoán: Vô sinh, béo phì, rối loạn chức năng nội tiết, sưng tuyến giáp trạng nhiễm độc toàn thân. Bà ta nói: Nhờ trời mà tôi biết được bà
Ekaterina vì 10 năm tôi không thể có thai được. Sau 1 số cách điều trị khác nhau của tây y tôi bị béo ra, rối loạn nội tiết, sưng tuyến giáp trạng, đau nhói gan và thận…
Sau 4 lần chữa bằng phương pháp Yumeiho, tôi đã có chửa. Tôi đã sinh được 2 cháu. 24/6/1996 tôi sinh cháu gái. 20/5/1998 tôi sinh bé trai. Toàn thể gia đình tôi rất hạnh phúc.
22. Tên: Cadia Silvịu bé trai 14 tuổi.
Tôi tập thể dục đã 5 năm, nhưng 3 năm tôi thực hành thể thao chuyên nghiệp. Tôi trở thành kỷ lục quốc gia về Triatlono và Pentaltlona và được kỷ lục quốc gia về 60m vượt rào, Mùa hè năm 1960 tôi bị chéo chân phải nặng, toàn bộ chân phải có như bay mất (hoàn toàn) đi so với chân trái. Tôi còn rất đau ở xương sống. Sau 1 năm điều trị tối không còn chơi thể thao được nữa. Các thầy thuốc Rumani đã chữa cho tôi với nỗ lực cao nhất mà họ có những trạng thái sức khoẻ của tôi trở nên rất xấu. Cha tôi đã đưa tôi sang Đức để tìm phương pháp thích hợp cho tôi, nhiều lần xuyên cột sống, đau vẫn không giảm, các bác sỹ không thể chữa cho tôi được nữa và tôi phải trở về Rumani, Cha tôi
mới biết một số bệnh nhân được bà Ekaterina chữa và chúng tôi tìm đến bà. Bà Ekaterina dùng phương pháp Yumeiho điều trị cho tôi. Sau 2 lần chữa tôi đã thấy kết quả và muốn tập luyện. Mơ ước của tôi (đạt được kỷ lục) là thực tế nhờ có phương pháp Yumeiho. Hàng tháng tôi tiếp nhận Yumeiho để giữ trạng thái luyện tập thể thao của tôi, tôi thành tâm cảm ơn bà Ekaterina người đã cứu tôi và giúp tôi thực hiện mong muốn của mình.
Chẩn đoán: Trong sự thuần thục giới tính. Cháu rất phát triển, cao tới 1,90m thầy thuốc Ekaterina nói, “Thân thể của cháu mất canxi, các muối khoáng. Đã bị gù và các đốt xương sống cách nhau quá xa. Tôi khuyên cháu đi chụp X quang cột sống và kết quả xác nhận điều đó, Sau 1 lần chữa tôi đã giải quyết được cột sống và ngày tiếp sau tôi xác nhận rằng chân phải của cháu ít bị lủng lẳng. Sau 2 lần chữa tôi thấy kết quả về cháu tốt. Tôi cam đoan rằng cậu bé 14 tuổi này sẽ thực hiện được ước mơ của mình và sẽ lập được kỷ lục lớn. Lần đầu tiên nhận được huy chương tôi sẽ gửi đến Masayuki Saionji vì ông là tác giả của phương pháp thần kỳ Yumeiho.
CADIA SILVU
BHINEA DANIELA VÀ
KRITTNA
KNABON
KNABINON
KANJO (EKATERINA STOTC)
Người dịch: NGUYỄN KHẮC MINH

BÁO CÁO SỬ DỤNG THỰC TẾ

“MÁY CÂN ĐÓ TRỌNG LƯỢNG CƠ THỂP TẠI MÁT-XCƠ-VA

(Bài phỏng vấn ông Saionji Masayuki cung bác sĩ Valery N. Karlov tại Mát-xcơ-va trên băng ghi hình, tháng 10-1995)
Vào mùa hè tôi nghiên cứu về các phi công bằng “máy cân đo trọng lượng cơ thể” và đây là những tư liệu đã ghi được về trọng lượng và sự chuyến lệch xương của họ cũng như những nét về tuần hoàn máu trong cơ thể. Và đây là So sánh những kết quả:
Phần nhiều trong số họ lúc đầu đau xương và sau đó đau xương hông do bị chuyến lệch. Nói chung giữa hai chân có sự chênh lệch về trong lượng 4 – 5kg, và có người sự chênh lệch đó gấp mấy lấn. Chính vì thế nhất thiết phải cần Yumeiho đê chỉnh lại sự chênh lệch đó, Bệnh nhân thường vào độ tuổi 30 – 40.
Tùy theo sự chuyên lệch về phía nào thì họ có những bệnh nhất định. Tôi kiểm nghiệm kết quả là khi trọng lượng nằm trên chân phải thì con người ăn uống càng thấy ngon miệng và có khả năng béo ra.Tôi cũng có so sánh ảnh hướng của trọng lượng đối với các hệ thần kinh ngoại cảm và giao cảm.
Tiếp theo tôi có nghiên cứu về hệ quả trọng lượng đến các cơ quan hô hấp và cũng so sánh tình trang trước và sau chữa bằng Yumeiho. Ở đây tôi có trên giấy những hình vẽ về những thay đổi của hệ hô hấp.
Điều này cũng chứng minh hiệu quả của Yumeiho trong việc chữa những chứng hen phế quản và ở đây là kết quả trước và sau khi chữa. Khi cơ bắp của bệnh nhân mềm hơn thì điều đó làm cho quá trình hô hấp tốt hơn.
Đây là những đường thể hiện sự thay đổi hộ hấp trong 2 phút “quạt” phổi. Đó là những người đã được nghiên cứu trong 10 ngày chữa. Lần này sau khi xoa bóp người ta ghi lại kết quả trên giấy này bằng những đường, và chức năng hô hấp liên tục tốt lên nhưng cũng có đôi khi xấu đi. Ví dụ như khi chữa vào ngày thứ 4 thì chức năng đạt hiệu quả cao nhất. Trong trường hợp xấu đi, bệnh nhân phải dùng thuốc. Như vậy, khi vận dụng Yumeiho người ta phải theo dõi thường xuyên sự thay đổi ở bệnh nhân và căn cứ vào đó mà tiếp tục chữa. Có thể việc dùng thuốc cũng có tác dụng phối hợp với Yumeiho. Chúng tôi sử dụng loại thuốc tiêm.
Sau khi vận dụng Yumeiho thì mức độ thay đổi về hô hấp ít hơn và điều đó có nghĩa là tiến bộ trong hồi phục. Có 2 nữ bệnh nhân đã được chữa trong nửa năm và cuối cùng họ không cần đến thường xuyên để chữa nữa, chỉ 3 tháng một lần vì tình hình sức khoẻ họ đã ổn định. Rồi dần dần họ cũng hạ bớt lượng thuốc dùng, và chẳng bao lâu họ sẽ chấm dứt việc dùng thuốc. Việc chữa trị của họ đến nay đã hai năm rồi.
Ở những phi công tôi đã so sánh sự chênh lệch trọng lượng cơ thể với nhịp đập của tim họ.
Chúng tôi ghi lại những khoảng cách và điện tâm đồ. Một bệnh nhân thường mỏi mệt và lười biếng có sự chênh lệch trọng lượng là số không. Tuy nhiên khi bệnh nhân đến đây lúc đang mệt thì sự chênh lệch là 8kg và sau khi được xoa bóp thì sự chênh lệch còn ít hơn 6kg và bệnh nhân cảm thấy khá hơn và trở lại siêng năng,
Một bệnh nhân bị sa đốt sống ở thắt lưng. Anh ta có trọng lượng nặng hơn mức cần thiết. Khi xoa bóp chúng tôi thấy sự thay đổi trọng lượng theo cách động, rồi từ đầu, đến cuối việc chữa trị anh ta vẫn có sự chênh lệch là 6kg.
Sự chênh lệch xương không sau 15 lần chữa lên bằng nhau. Tuy nhiên trong lượng 6kg không thay đổi (ở cùng một bên).
Theo kinh nghiệm của tôi thì khí trọng lực cơ thể bình thương hoá thì lúc đó việc chính xương hông dễ dàng hơn. Và tôi cũng tin rằng việc điều chỉnh thực hiện được nhò có xoa bóp mới bình thương hoá bộ xưởng, chức năng cơ thế và quá trình nuôi dưỡng ….
NGUYỄN QUANG dịch.
 LIÊN QUAN GIỮA XƯƠNG HỒNG TRỌNG TÂM VÀ BÊNH MASAYUKI SAIONJL
Viện Y học quốc tế thực hành phòng bệnh (Tokio)
Trọng tâm có liên quan đến trọng lượng cơ thể trên chân phải và trọng lượng cơ thể trên chân trái. Điều này có thể đo bằng máy trọng tâm “Conener” được I.I.P.M.P phát minh ra, là loại đầu tiên trên thế giới.
1. Sự lệch xương hông là do mất cân bằng về trọng tâm.
2. Sự mất cân bằng về trọng tâm gây nên sự mất cân bằng về độ căng cơ ở cả hai chân và làm lệch xương (các khớp) của thân thể.
3. Trong tâm theo thời gian luôn luôn thay đổi, nhưng có thể xẩy ra luân chuyển (bên phải hoặc bên trái) trong thời gian xác định.
4. Sự lệch xương hông còn do tử cung người mẹ (do tình thần căng thẳng hoặc do tử cung phát triển không tốt), còn do trước khi sinh hoặc trong lúc sinh xẩy ra can thiệp bằng dụng cụ hoặc di truyền, nếu như mẹ bị lệch xương hông.
5. Lệch xương hông xấy ra do mất cân bằng (quá căng hoặc quá suy nhược).
Cơ bị căng quá ở cả hai chân và sự mất cân bằng này ta thấy mọi thói quen hàng ngày cử động không có ý thức liên quan đến chân, còn cả trong giấc ngủ.
6. Những cử động và ý thức này ngày càng tăng sự mất cân bằng về căng cơ ở cả hai chân và sự lệch các khớp xương.
7. Căng thẳng tinh thần gây căng thẳng cơ của toàn cơ thể và càng làm mất cân bằng trong tâm.
8. Thể thao và thể dục ngay cả đi và chạy, nếu quá cũng càng làm mất cân bằng trọng tâm. Lạnh, cơ căng thẳng, mệt mỏi cũng làm tăng thêm sự mất cân bằng trong tâm ăn quá nhiều, uống quá nhiều làm căng các cơ quan nội tạng và các cơ và làm tăng sự mất cân bằng trọng tâm.
9. Mất cân bằng trong tầm ảnh hưởng đến sự ngon miệng, chức năng của các cơ quan tiêu hoá và những sự sắp xếp bố trí (người dễ béo hoặc người khó béo lên được).
10. Mất cân bằng trong tâm, đến một mức độ nào đó và sau khi thay đổi có thể sinh bệnh. Sau khi mất cân bằng cả hai chân (liên quan giữa bệnh lệch chính và ngược lại). Đó là chức năng tự lập lại dao động (cân bằng) và như vậy hết bệnh. Người ta gọi là khả năng tự chữa bệnh.
11. Hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm cũng ảnh hưởng đến trọng tâm.
12. Sự mất cân bằng trọng tâm thường xảy ra ở nửa ngoài (chủ yếu gồm cả não và các cơ quan nội tạng) ở bên trái hoặc nửa bên phải của cơ thể.
13. Trạng thái tinh thần (tính hoạt bát vui vẻ,tinh thần suy nhược) phụ thuộc vào sự mất cân bằng trọng tâm.
14. Mất cân bằng trọng tâm có thể kiểm tra được khi dùng máy đặc biệt không dùng máy; thực tế có thể kiểm tra bằng cách so sánh sự co cứng ở hai khớp hông.
15. Để chữa những người bệnh, một điều rất quan trọng là làm mất sự mất cân bằng về trọng tâm cơ thể, và đạt được kết quả sau khi có sự cân bằng.
Bài này viết ra để trình bày trong IMEK ở Opava Tiệp tháng 7/1999
NGUYỄN KHẮC MINH dịch

MỤC LỤC

  • Lời người dịch
  • Lời tựa
  • Lời nói đầu
  • Lời nói đầu cho xuất bản phẩm bằng quốc ngữ

I. PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHỈNH XƯƠNG HỒNG LÀ GÌ?

II. PHÉP TRỊ LIỆU THẦN KỲ

  •  Nguyên nhân các chứng bệnh
  • Tất cả 69 chứng bệnh đã được chữa khỏi
  • Bạn có tin những hiệu quả kỳ lạ này không
  • Các phương pháp đơn giản chữa bệnh đau lưng

II. NGUYÊN NHÂN CÁC CHỨNG BỆNH LÀ DO CHUYÊN LỆCH XƯƠNG HỒNG

  • Chỉ có 0,1% số người có được xương hông bình thường
  • Khi nào bắt đầu chuyển lệch xương hông.
  • Sự chuyên lệch xương hông gây bệnh như thế nào
  • Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông là an toàn nhất
  • Những giới hạn chữa bệnh của khoa học hiện đại
  • Còn quá sớm để khẳng định rằng đó là hiện tượng tuổi già
  • Phép trị liệu này có thể cải thiện sự cấu thành cơ thể bạn

IV. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NÁCH CHỈNH XƯƠNG HỒNG

  • Khả năng tự đề kháng là chìa khóa để triệt tận gốc căn bệnh
  • Vì sao việc chẩn đoán và quan sát y học lại cần thiết đối với phép trị liệu bóp nắn chính xương hồng
  • Phép trị liệu nắn chỉnh xương không là lý tưởng nhất trong các phép trị liệu tự nhiên
  • Khi nói đến pháp trị liệu này, tôi nhớ đến thầy dạy tôi là ông Schuiichi Ohno
  • Không có phương pháp tập luyện nào hợp lý hơn phương pháp bóp nắn chính xương hông
  • Phép trị liệu bóp nắn chính xương hông hiệu nghiên như thế nào đối với người bị ung thư giai đoạn cuối
  • Những hiệu quả khác của phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông

V. LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT ĐƯỢC HIỆN TƯỢNG CHUYỀN LỆCH XƯƠNG HỒNG

  • Hiện tượng chuyến lệch xương không là ở trạng thái nào
  • Hiện tượng chuyển lệch xương hông gây ra những bệnh gì
  • Những chứng bệnh đã được chữa khỏi bằng phép trị liệu bóp nắn chính xương hông
  • Cách kiểm tra xương hông

 

 VI. HIỆU QUẢ KỲ LẠ CỦA PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NÁN CHÍNH XƯƠNG HỒNG

  • Phép trị liệu bóp nắn chỉnh xương hông cũng thích hợp với bạn
  • Cách thức đúng đắn để chữa lành bệnh nhanh
  • Những người được chữa khỏi bệnh qua thời gian đau lâu
  • Những phản ứng chỉnh xương không là dấu hiệu báo trước bệnh sắp lành
  • Cơ chế những phản ứng chỉnh xương hông

 VII. PHÉP TRỊ LIỆU BÓP NẮN CHÍNH XƯƠNG HỒNG TẠI NHÀ

  • Chú ý
  • Các động tác cơ bản
  • Các động tác để chữa bệnh đau lưng
  • Các động tác để chứa hội chứng thần kinh và đau khớp đầu gối
  • Các động tác để chữa hội chứng đau đầu và nhức vai
  • Các động tác để chữa tím phổi và phát phì
  • Các động tác để chữa hội chứng của hệ tiêu hóa.
  • Các động tác để chữa hội chứng mệt mỏi và nôn nóng
  • Các động tác để chữa các bệnh phụ khoa
  • Những động tác còn lại trong phép trị liệu
  • Lời kết
  • Phụ lục 1: Thể dục bóp nắn tự luyện DJINO BICS
  • Phụ lục 2: Bảng ghi về tính co giãn
  • Phụ lục 3: Hỏi đáp về Yumeiho – liệu pháp của M. Sajoni và các báo cáo của các thầy thuốc về hiệu quả chữa bệnh của Yumeiho liệu pháp.
  • Phụ lục 4: Liệu pháp Yumeiho
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA – THÔNG TIN
43 Lò Đúc – Hà Nội

XOA BÓP BẤM HUYỆT CHỮA BÁCH BỆNH
(XOA BÓP THẦN KỲ ĐẶC HIỆU PHƯƠNG ĐÔNG)
MASAYUKI SAIONJO
(Nhật Bản)

Chịu trách nhiệm xuất bản
AN CHƯƠNG
Chịu trách nhiệm bản thảo
PHẠM NGỌC LUẬT
Biên tập: NGUYỄN BÍCH HẰNG
Trình bày: NGỌC HUYỀN
Sửa bản in: NGUYỄN KHẮC MINH
Vē bia: ĐỨC TRÍ
Minh họa: QUANG DŨNG

In tại: Xưởng in NXB Văn hoá Dân tộc
Số lượng: 1.000 cuốn, khuôn khổ 13 x 19cm
Giấy phép xuất bản số: 105/TB-QLXB/129-VNTT
In xong và nộp lưu chiểu quý IV năm 2003,

Trả lời